//
you're reading...
Khoa Học, Lịch sử

Đạo đức trong sự vận hành của hệ thống nghiên cứu khoa học

Môi trường nghiên cứu khoa học ngày nay đã khác rất nhiều so với thời kỳ khi khoa học bắt đầu phát triển mạnh mẽ vào đầu thế kỷ 18 trong thời đại Khai sáng ở Âu châu  khi mà lãnh vực nghiên cứu còn rộng lớn và số lượng nhà khoa học nghiên cứu còn ít  và sự cạnh tranh nghiên cứu không khốc liệt như ngày nay giữa các nước. Số lượng giáo dục đào tạo các ngành khoa học càng ngày càng phát triển mạnh mẽ qua sự đòi hỏi kinh tế và chính sách phát triển công nghệ trong xã hội tiến đến nền kinh tế tri thức. Khoa học nghiên cứu được xem là một nghề chuyên nghiệp đòi hỏi tri thức cao.

Thế giới toàn cầu hóa đã đẫy lãnh vực kinh tế, an ninh, môi trường và khoa học nghiên cứu vào một sư tương quan chặc chẻ. Sự cạnh tranh giữa các quốc gia tìm ra thành quả áp dụng những nghiên cứu khoa học trở thành thêm khốc liệt. Những thước đo về khả năng và thành công trong lãnh vực nghiên cứu của các nhà khoa học nghiên cứu là công bố các bài báo cáo khoa học trong các tạp chí hay các bản báo cáo cho các cơ quan chính phủ hay kỷ nghệ tài trợ cho công trình, các áp dụng trong công nghệ, các bằng sáng chế được công nhận.

Do sự phát triển lớn mạnh trong các ngành khoa học và kỷ thuật trong môi trường kinh tế xã hội luôn thay đổi, số lượng sự cố liên quan đến vi phạm đạo đức trong khoa hoc nghiên cứu đã gia tăng qua nhiều sự kiện như gian lận trong thí nghiệm, ngụy tạo hay uốn nắn dũ kiện, đạo văn, đạo ý, đạo đức trên thí nghiệm động vật,…. Thường thì những sự kiện vi phạm như vậy được giải quyết trong giới chuyên môn hay các hội khoa học ngành và ít được công chúng hay báo chí tường thuật.

Nhưng có những vi phạm đạo đức, nhất là gian dối, trong nghiên cứu khoa học có ảnh hưởng trực tiếp đến công chúng đã gây ra nhiều sự bàn cãi tranh luận không những trong giới chuyên môn mà ngay cả trong xã hội và đưa đến những điều chỉnh các qui luật thích hợp cho tình hình và giá trị của xã hội trong thời điểm đương tại. Trong các thập niên 1970 và 1980 ở Mỹ, xảy ra các sự gian dối trong các công trình nghiên cứu khoa học do chính phủ tài trợ và quốc hội đã phải lập ra các ủy ban để điều tra và đề xuất khả năng ra luật để điều chỉnh và quản lý sự trung thật trong quá trình nghiên cứu khoa học nếu cộng đồng các nhà khoa học không tự điều chỉnh được (6).

Gần đây số lượng rút lại các bài đã được đăng có gia tăng so với các năm trước. Rút bài sau khi đã được đăng đã gây thiệt hại tăm tiếng cho các tạp chí chuyên ngành đăng những bài bị rút xuống, ngay cả tạp chí nổi tiếng như Nature, Science, Proceedings of the National Academy of Sciences, Cell, Lancet (bài ngụy tạo dữ kiện của Andrew Wakeman, 1998), New England Journal of Medicine (bài ngụy tạo dữ kiện về bệnh tim của John Darsee 1981) cũng không tránh khỏi. Và các viện nghiên cứu hay trường đại học danh tiếng như Harvard cũng có những nhà nghiên cứu vi phạm đạo đức trong nghiên cứu như uốn nắn hay ngụy tạo dữ kiện (như giáo sư y khoa John Darsee năm 1981 và nhà tâm lý học Marc Hauser năm 2011 ở Harvard).

Theo một thống kê khảo sát được đăng trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences thì trong số 2047 bài trong hồ sơ dữ liệu PubMed cho đến ngày 3 tháng 5 2012 bị ghi nhận là được rút lai thì 43.4% bị rút là vì có gian lận hay bị nghi ngờ có gian lân, 14.2% là bài đã đăng trước đây, 9.8% là đạo vặn. Chỉ có 21% là do sai sót hay sai lầm không cố ý (4). Từ năm 1975 đến nay, tỉ số các bài bị rút xuống tăng 10 lận. Tỉ số bài rút xuống năm 2012 là khoảng 0.01% trên tổng số bài được đăng. Trong 10 tạp chí có bài rút xuống nhiều nhất có các tạp chí nổi tiếng với “impact factor” cao như Science, Nature, Proceedings of the National Academy of Sciences, Cell. Không những thế có sự tương quan (correlation) giữa chỉ số gây ảnh hưởng (impact factor) của tạp chí và số lượng bài rút xuống: chỉ số gây ảnh hưởng, impact factor,  của tạp chí càng cao thì số lượng bài rút xuống càng lớn.

Bài này có mục đích trình bày lịch sử và một số vấn đề nổi cộm hiện nay về đạo đức trong môi trường nghiên cứu khoa học từ giai đoạn nghiên cứu cho đến công bố thành quả khoa học và các tranh luận cũng như các biện pháp giải quyết những vấn nạn liên quan đến đạo đức trong nghiên cứu của một số các tổ chức, hội chuyên ngành khoa học nghiên cứu ở các nước và các tổ chức khoa học quốc tế. Qui luật về chinh trực và tư cách trách nhiệm trong nghiên cứu ở Australia sẽ đuợc trình bày. Bài cũng điểm sơ qua về những vấn đề đạo đức trong nghiên cứu khoa học liên quan đến người, động vật và môi trường.

Đạo đức trong khoa học nghiên cứu

Thế nào là đạo đức (ethics) trong nghiên cứu khoa học và nó bao gồm những lãnh vực gì trong quá trình nghiên cứu khoa học. Tư cách đạo đức (conduct) của nhà nghiên cứu khoa học được thể hiện trong phạm vi hiểu biết về đề tài đạo đức và không có những hành động hay ý tưởng sau

– Ngụy tạo dữ kiện (fabrication). Đây là hanh vi trầm trọng nhất trong vấn đề đạo đức trong nghiên cứu khoa học. Ngụy tạo dữ kiện trong khoa học đã có từ khi khoa học bắt đầu phát triển mạnh từ thế kỷ 19. Trong các ngụy tạo nổi tiếng có các vụ như xương người cổ “Pildown man” (1912).

– Thay đổi, uốn nắn dữ kiện (falsification) hay cố ý bỏ đi những dữ kiện để đạt được kết quả hay phù hợp với lý thuyết đặt ra. Dữ kiện bị “tỉa” (trimmed) hay “nấu” (“cooked”), như nhà toán học Charles Babbage đã đề cập đến từ năm 1830 (8), ngày nay đang xảy ra rất nhiều và khó kiểm được.

– Đạo văn, đạo ý, đạo phương pháp (plagiarism) người khác hay công bố nhiều lần có văn và ý tương tư của mình trên các tập san khác nhau (self-plagiarism);

– Nhẹ hơn là nhờ người khác viết bài cho mình, hay để tên trong bài nghiên cứu mà không có cống hiến gì trong công trình nghiên cứu.

– Hành vi vi phạm nhân đức trong thí nghiệm liên quan đến con người hay động vật , thí du như khi không có sự đồng ý của đối tượng và có hại nhiều hơn lợi ích của thí nghiệm cho đối tương hay gây khổ đau không cần thiết với động vật

– Thực hiện những thí nghiệm, nghiên cứu trong lãnh vực mà văn hóa xã hội chưa chấp thuận hay ngăn cấm qua luật pháp như tế bào mầm, tế bào thụ tinh, cấy gien qua các chủng khác nhau, sinh vật thay đổi gien ảnh hưởng đến môi trường.

Ngoài ra về phương diện cá nhân, một nhà khoa học đáng kính trọng ngoài khả năng và không vi phạm tiêu chuẩn đạo đức trong nghiên cứu khoa học như trên, khi nhà khoa học thật công tâm và đối xử công binh với đồng nghiệp và cộng sự viên. Công tâm trong khoa học không có xung đột lợi ích (conflict of interests). trong suốt kê khai tất cả những tổ chức mình được tài trợ hay liên hệ mà công trình nghiên cứu có thể có ảnh hưởng.

Từ xưa đến nay, hệ thống thẩm định đánh giá các bài nghiên cứu trước khi công bố hay đăng trên tạp chí khoa học giữa các đống nghiệp trong ngành (peer review) và vai trò của chủ bút tập san là các yếu tố quan trọng nhất trong quá trình đăng trên các tạp chí khoa học. Nhưng hệ thống binh duyệt này, cũng như bất cứ hệ thống nào, dĩ nhiên đều không hoàn hảo.

Nguyên nhân và trách nhiệm của các sự cố vi phạm đạo đức trong nghiên cứu trong quá trình chọn đăng các bài nghiên cứu trước nhất là nằm ở tác giả cộng với các yếu tố chính như: kẻ hở của quá trình bình duyệt (peer review, thẩm định đánh giá giữa các đồng nghiệp), kẻ hở từ hệ thống nơi làm việc của tác giả, văn hóa nghiên cứu và hệ thống giáo dục sở tại, và gần đây là do sự gia tăng nhiều các tạp chí mở (Open Access journal) của các nhà xuất bản hay của các cá nhân thương mai lợi dụng sự cạnh tranh nghề nghiệp trong công bố khoa học. Những vấn đề này chúng ta sẽ bàn sau trong bài.

Qui luật (code) về tư cách đạo đức trong thí nghiệm liên quan đến người, động vật, môi trường

Hai điều cuối trong các phạm vi đạo đức trong nghiên cứu khoa học, đặc biệt lien quan đến con người, như đã liệt kê bên trên đã được xã hội luật pháp quan tâm trước nhất bắt đầu từ ngay sau thế chiến thứ 2, qua qui luật Nuremberg (Nuremberg Code) năm 1947 được nhiều nước trên thế giới áp dụng. Nguyên lý cơ bản là trong thí nghiệm với đối tượng con người là sự đồng ý tự nguyện tham gia vào thí nghiệm là tuyệt đối cần thiết phải có (“The voluntary consent of the human participant is absolutely essential”).

Tuyên bố Helsinki (Declaration of Helsinki) của Hội y khoa Thế giới (World Medical Association) đề xuất vào năm 1964 các nguyên lý cơ bản về đạo đức trong nghiên cứu y khoa và các đề nghị các bác sĩ, các nhà nghiên cứu y học nên tuân theo trong những thí nghiệm liên quan đến con người. Tuyên bố Helsinki là nền tảng cho nhiều qui luật về áp dụng y khoa ở nhiều nước trên thế giới. Tuyên bố Helsinki đã được cập nhật và sửa đổi đầy đủ hơn vào năm 1975, Các sửa đổi điều chỉnh vào các năm 1983, 1989, 1996 và 2000 cho hợp với tình hình thực tế và tiến bộ y khoa qua các kinh nghiệm về các thí nghiệm trên con người ở nhiều nước trên thế giới được thực hiện sau đó.

Các nguyên lý cơ bản của Tuyên bố Helsinki tụ trung trong các vấn đề

– Sự đồng ý của đối tượng cùng với đầy đủ thông tin được cung cấp mà đối tượng nhận và hiểu

– Nghiên cứu phải được thực hiện bởi các nhà khoa học có bằng cấp chứng thực và có khả năng

– Trước khi thực hiện, quá trình và phương pháp nghiên cứu phải được xem xét bởi một ủy ban độc lập

– Rủi ro trên đối tượng không thể nhiều hơn lợi ích

Ở Australia, Tuyên bố Helsinki đã được coi là nền tảng cho đạo đức trong nghiên cứu liên quan đến con người. Hơn nữa vào năm 2007, Chính phủ Australia cùng với Hội đồng Y tế và Nghiên cứu Y khoa Quốc gia (National Health and Medical Research Council, NHMRC), Hội đồng Nghiên cứu Australia (Australia Research Council, ARC), Ủy ban hiệu trưởng các đại học ((Australian Vice-Chancellors’ Committee, AVCC) đã ban hành nguyên tắc và hướng dẫn đạo đức trong nghiên cứu con người không những áp dụng trong ngành y khoa, sinh học mà đến tất cả ngành như khoa học xã hội lấy dữ kiện trên cá nhân con người hay từ một sắc dân, một dân tộc (như người bản sứ). Văn kiện quan trọng này gọi là “Tuyên bố Quốc gia về Đạo đức trong nghiên cứu Con người” (“National Statement on Ethical Conduct in Human Research”).

Các luật của tiểu bang dựa và qui luật này và theo đó các công trình nghiên cứu có liên quan đến con người phải dựa theo các nguyên lý như phải được cá nhân hay đối tượng cộng đồng liên quan chấp thuận, ích lợi của nghiên cứu, thể hiện sự công bình, công tâm, kính trọng con người, văn hóa, tôn giáo của cá nhân hay tập thể, bảo vệ được dữ kiện riêng tư theo đúng luật … và được chấp thuận bởi Ủy ban Đạo đức Nghiên cứu Con người (Human Research Ethics Committee). Về phương diện pháp lý, qui luật này dựa vào các luật tiểu bang và luật liên bang như The National Health and Medical Research Council Act 1992, và The Australian Research Council Act 2001.

Ở Mỹ, các nguyên lý của Tuyên bố Helsinki, được thể hiện trong bản Tường trình Belmont (Belmont report) do Ủy hội Quốc gia Bảo vệ Con người trong Nghiên cứu Sinh y và Thái độ (National Commission for the Protection of Human Subjects of Biomedical and Behavioral Research). Ủy ban này được thiết lập qua bộ luật được ban hành năm 1974, Luật nghiên cứu Quốc gia (National Research Act 1974).

Đối với động vật, các thí nghiệm, nghiên cứu khoa học trên động vật đã có từ nhiều năm trước trên con người, ít nhất cách đây hơn 2300 năm. Aristostle (thế kỷ 4 trước dương lịch (BCE) tìm hiểu về sinh học đã thí nghiệm trên động vật như trứng gà đã thụ sinh và đang phát triển. Galen, nhà y học người La Mã ở thế kỷ thứ 2, đã mổ sẽ nhiều thú vật như, heo và dê, ông được coi là cha đẻ của giải phẩu.

Cho đến thế kỷ 17, những thí nghiệm nghiên cứu trên động vật kể cả mổ xẻ đều được lấy lý do là vì mục đích tiến bộ khoa học đưa đến lợi ích cho con người và vì thế không ai quan tâm về những thí nghiệm trên động vật như vậy.

Ở Anh, trong thế kỷ 17, đã có nhiều tiếng nói và các phong trào chống lại sự tùy tiện mổ xẻ thú vật trong nghiên cứu hay có mục đích hiếu kỳ học hỏi. Edmund O’Meara, bác sĩ người Ái Nhĩ Lan, nổi tiếng là người chống lại sự mổ sẻ động vật là không cần thiết và cho là sự đau khổ của thú vật sẽ làm ảnh hưởng đến kết quả trong thí nghiệm. Charles Darwin là người ủng hộ luật chống lại sự ác độc với thú vật (Cruelty To Animals Act) do quốc hội Anh thông qua năm 1876. Mổ sẻ thú vật chỉ được cho phép trong những công trình nghiên cứu có chứng minh được là cần thiết cho sự tiến bộ khoa học.

Ở Mỹ, Luật An sinh thú vật trong phòng thí nghiệm (Laboratory Animal Welfare Act) chỉ ra đời vào năm 1966. Ở Australia, luật an sinh thú vật do mổi tiểu bang và lãnh thổ ban hành dựa theo “Qui luật Thực hành sự Chăm sóc và Xử dụng Thú vật trong Mục đích Khoa học” (“Code of Practice for the Care and Use of Animals for Scientific Purposes”) do Hội đồng Y tế và Nghiên cứu Y khoa Quốc gia (National Health and Medical Research Council, NHMRC) ban hành. Dựa vào qui luật của Hội đồng Y tế và Nghiên cứu Y khoa Quốc gia, các nghiên cứu có thực hiện thí nghiệm trên động vật phải được chấp thuận của Ủy ban Đạo đức về Động vật (Animals Ethics Committee, AEC). Các thành viên của Ủy ban này là do các viện nghiên cứu ở tiểu bang đề cử.

Không chỉ giới hạn đến vấn đề đạo đức trong thí nghiệm hay nghiên cứu khoa học liên quan đến con người và động vật, mà ngay cả đến thiên nhiên và hệ sinh thái mà con người và động vật khác chỉ là các thành phần trong tổng thể, các nhà nghiên cứu khoa học cũng phải đối diện với vấn đề triết lý là môi trường thiên nhiên có phải chỉ là thuộc vào con người và phục vụ cho con người mà con người có thể hủy hoại hay lạm dụng hệ sinh thái và thiên nhiên trong mục đích của mình hay không. Từ các năm cuối thế kỷ 20 đến nay chủ đề đạo đức môi trường (Environment ethics) đã được tranh luận qua nhiều vấn đề như sinh vật, thực vật đổi gien hay thay đổi khí hậu và được các nhà khoa học và xã hội chú tâm và bắt đầu được mang vào chương trình giáo dục ở một số nước.

Sự phát triển các qui luật về đạo đức trong nghiên cứu khoa học

Nếu áp dụng triệt để về tiêu chuẩn đạo đức trong nghiên cứu khoa học như trình bày ở trên, thì có rất nhiều vụ vi phạm của rất nhiều nhà khoa học từ trước cho đến nay, nhất là uốn nắn dữ kiện và tự đạo văn.

Trong lịch sử ta có thể kể Ptolemy vào thế kỷ thứ 2 đã dùng công trình của Hipparchus trong tác phẩm Almagest của minh về thuyết trái đất là trung tâm của sự vận hành vũ trụ. Trong thời đại của Ptolemy thì sự lấy những công trình kiến thức của người khác mà không ghi xuất xứ để bổ sung và truyền bá kiến thức là một việc được coi là bình thường, chưa gây sư, quan tâm.

Isaac Newton,nhà toán học và vật lý nổi tiếng ở thế kỷ 18, cũng được cho là đã uốn nắn dữ kiện (7). Ông đã điều chỉnh các tính toán vận tốc âm thanh và tuế sai các phân điểm (procession of the equinoxes) trong sự nghiêng của trục quay trái đất để chúng phù hợp gần với các lý thuyết của ông.

Nhà di truyền học George Mendel cũng có thể đã làm như vậy. Năm 1938 nhà toán học thống kê R. Fisher trong một bài phân tích dữ kiện của Mendel cho rằng một số dữ kiện của Mendel phù hợp hoàn toàn tuyệt mỹ không sai số với lý thuyết di truyền Mendel. Theo Fisher, thì điều này không thể có được trong thực tế và Fisher cho rằng Mendel đã sửa hay uốn nắn dữ kiện (9). Trường hợp về sự kiện uốn nắn dữ kiện của Mendel mà Fisher đã nêu ra vẫn còn đang trong tranh luận cho đến hiện nay, và kết luận vẫn chưa ngã ngũ. Ngay cả Darwin, cha đẻ của thuyết tiến hóa về nguồn gốc muôn loài sinh vật, nay ta được biết là ông đã sửa các ảnh chụp trong sách đề tài nghiên cứu của ông “The Expression of Emotions”.(“Biểu hiệu của các xúc đông”)

Sau thế chiến thứ 2 (1945), nghiên cứu khoa học ở nhiều ngành bùng nổ, nhất là ở Mỹ. Ta không ngạc nhiên khi số lượng vi phạm đạo đức tăng vọt, như các trường hợp ngụy tạo và uốn nắn dữ kiện của nhà tâm lý học Cyril Burt ở Anh, nhà nhiễm thể học A. Alsabti, và nhà sinh học W. Summerlin ở Mỹ.

Từ đó đến khoảng thập niên 1970, ở nhiều nước, đã có nhiều vi phạm đạo đức trong quá trình nghiên cứu khoa học, nhưng tất cả đều được giải quyết trong nội bộ giới chuyên môn, không có phải dính dáng đến pháp luật hay xét phán của công chúng, xã hội. Với lý do là bị áp lực phải thành công, lầm lỗi qua nhiều việc hay quá sức làm việc, .. một số các nhà khoa học chỉ bị xuống chức hay cấm trong một thời hạn không được tham gia hay xin tài trợ vào các công trình khoa học chứ không bị đuổi, phạt tiền, tước quyền hành nghề hay bị pháp luật xử lý giam.

Ở Mỹ trong thập niên 1980, qua những trường hợp vi phạm đạo đức có ảnh hưởng đến xã hội, mà cộng đồng khoa học không tự điều chỉnh được sau khi đã được quốc hội điều tra năm 1981, qua trường hợp giáo sư y khoa John Darsee ở Đại học Harvard đã ngụy tạo và uốn nắn dũ kiện. Vì thế vào tháng 4 năm 1988 quốc hội Mỹ đã lập các tiểu ban xem xét các sự cố vi phạm trong những nghiên cứu được quĩ tài trợ từ chính phủ, trong đó có các vụ bị dấu nhẹm hay làm khó dễ những người tố cáo, và ra luật chặc chẻ và đầy đủ hơn để điều chỉnh về phòng ngừa và quản lý vi phạm đạo đức trong nghiên cứu khoa học (6).

Trong số đó có trường hợp cô Thereza Imanishi-Kari đã bị đồng nghiệp tố cáo là ngụy tạo dữ kiện trong một bài về miễn nhiễm với David Baltimore, người được giải Nobel về Y học năm 1975, là đồng tác giả đăng trên tạp chí Cell. Và trường hợp nhà tâm lý học trẻ em Stephen Breuning bị kết án ở tòa án liên bang là uốn nắn các dữ kiện và các báo cáo (report) các công trình nghiên cứu ảnh hưởng các thuốc an thần trên trẻ em kém phát triển trí óc do chính phủ tài trợ gởi đến Viện Y tế Tâm thần Quốc gia (National Institute of Mental Health, NIMH).

Thereza Imanishi-Kari, sau đó bị cấm không được xin tài trợ nghiên cứu trong 10 năm, nhưng sau này qua nhiều tranh luận và điều tra sôi nổi, vào năm 1996 qua quá trình điều tra lại, đã được tuyên bố là vô tội và được tiếp tục làm nghiên cứu khoa học. Vì Stephen Breuning thú nhận ngụy tạo và uốn nắn dữ kiện trong nghiên cứu mà ông đã có rất nhiều bài viết đăng trên nhiều tạp chí, và ảnh hưởng đến đường lối chính sách xử dụng thuốc ở các bệnh viện, sự vi phạm đạo đức trong các công trình nghiên cứu của ông là trầm trọng có khả năng dẫn đến hậu quả to lớn và gây quan tâm trong xã hội. May thay sự việc đã được phát giác sớm nên không có thiệt hại là bao (6). Giáo sư Robert Sprague là giáo sư hướng dẫn của Breuning đã khám phá sự ngụy tạo và gởi NIMH về vi phạm đạo đức của Breuning, nhưng trong các năm sau đó chính ông Spargue là người bị NIMH điều tra và làm khó khăn trước khi ông mang vấn đề này ra công luận xã hội qua báo chí và quốc hội.

Năm 1993, quốc hội ban hành bộ luật thể chế hóa Office of Scientific Integrity (OSI), trước đó được thành lập vào năm 1989 sau khi ủy ban quốc hội kết thúc điều tra để Quản lý và ngăn ngừa vi phạm đạo đức trong nghiên cứu khoa học. Vào năm 1992 OSI được đổi tên là Office of Research Integrity (ORI) và chuyển từ National Institute of Health (NIH) đến Department of Health and Human Services (HHS).

Ở Australia, năm 1997 Hội đồng Y tế và Nghiên cứu Y khoa Quốc gia (NHMRC) và Ủy ban hiệu trưởng các đại học (Australian Vice-Chancellors’ Committee, AVCC) đã ban hành Tuyên bố và các Hướng dẫn trong công tác nghiên cứu “Statement and Guidelines on Research Practice” và được tất cả các Đại học và Viện nghiên cứu áp dụng. Và năm 2007 chính phủ liên bang cùng với Hội đồng Y tế và Nghiên cứu Y khoa Quốc gia (NHMRC), các đại học và Hội đồng Nghiên cứu Australia (Australia Research Council, ARC) cập nhật tài liệu Tuyên bố và các Hướng dẫn trong công tác nghiên cứu thành Qui luật của Australia về tư cách trách nhiệm trong nghiên cứu (Australian Code for the Responsible Conduct of Research). Qui luật này được áp dụng cho toàn nước Australia mà chi tiết chúng ta sẽ bàn ở phần sau.

Sự thay đổi mô hình công bố khoa học và các hệ quả: Tạp chí mở (Open Access Journals)

Không phải tất cả sự gian lận, thiếu trung thực, vi phạm đạo đức trong nghiên cứu khoa học là chỉ đều do tác giả mà thôi. Một phần là do một số các tạp chí mới được thành lập gần đây do các nhà xuất bản hay cá nhân ít được biết đến, đó là các tạp chí mở (open access journal).

Mô hình thương mại về xuất bản tạp chí khoa học bắt đầu thay đổi từ khoảng giữa thập niên đầu của thế kỷ 21. Sự hiện diện của tạp chí mở phản ảnh nhu cầu cần phổ biến rộng rãi và đòi hỏi của quần chúng được tiếp cận dễ dàng hơn với những thành quả nghiên cứu trong các ngành khoa học được công bố trên các tạp chí, thay vì chỉ giới hạn trong cộng đồng của những nhà chuyên môn, hay các tổ chức, các viện nghiên cứu, các đại học có khả năng đặt mua các tạp chí nghiên cứu này.

Ở một số nước, chính phủ còn đòi hỏi một số các công trình nghiên cứu do chính phủ tài trợ khi được công bố trong các báo cáo hay trên tạp chí phải được công chúng (kể cả công chúng ngoài nước) tiếp cận dễ dàng (như trên mạng internet) vì cơ bản là ngân sách tài trợ cho công trình nghiên cứu là từ thuế của dân chúng ở nước đó.

Trong mô hình tài chính của tạp chí nghiên cứu mở thì người đọc không còn phải trả tiền mà chính các tác giả các bài báo cáo khoa học phải trả tiền khi bài báo khoa học của mình được đăng (có thể dùng ngân sách của công trình nghiên cứu hay của cơ quan nơi nghiên cứu được thực hiện).  Khác với mô hình trước đây là các tác giả các bài nghiên cứu được công bố không phải trả kinh phí đăng mà chỉ giao quyền copyright cho nhà xuất bản và các tạp chí được bán cho các nơi đặt mua (subscribers) như các viện nghiên cứu, đại học, cơ quan chính phủ…. Ngoài sự khác nhau này thì nói chung qui trinh công bố, như quá trình binh duyệt (peer review) trước khi chấp nhận đăng bài hay không đều giống nhau

Sự ra đời của các tạp chí mở đã gây ra nhiều tranh cãi về sự thích ứng của mô hình này trong sự phát triễn và chất lượng của nghiên cứu khoa học và hệ quả của nó trong công đồng giới nghiên cứu nói riêng và trong xã hội nói chung.

Hiện nay thi các tạp chí mở và các tạp chí cổ điển không theo mô hình mở đều hiện diện và cạnh tranh nhau trong sự thu hút các tác giả và độc giả và đều khả thi trong sự tồn tại của mình. Mặc dầu vẫn còn ít, nhưng một số các tạp chí mở đã có tiếng và chất lượng có chỉ số Impact Factor cao như các tạp chí của Biomed Central (BMC), tạp chí PLoS (Public Library of Science) ONE, Journal of Medical Internet ResearchAtmospheric Chemistry and Physics.

Sự thành công của các tạp chí mở có chất lượng này đã cho phép các nhà khoa học công bố các thành quả nghiên cứu dễ dàng nhanh chóng hơn với số lượng độc giả rộng lớn trong xã hội mà chất lược vẫn giữ được cao và đối với các nhà xuất bản thì giá thành giảm tăng hiệu quả kinh tế cho họ và với công chúng thì đươc tiếp cận thông tin về tiến bộ khoa học không khó khăn. Đây là tình trạng thắng-thắng (win-win) cho mọi người, nâng cao sự trong suốt và công bình về thông tin trong xã hội.

Tuy nhiên gần đây, lợi dụng mô hình mở, đã xuất hiện nhiều tạp chí mở với tên rất cao thượng và kêu trong ngành để làm bóng cho các tác giả cần có trong CV (Curriculum vitae), nhưng các tạp chí này hoàn toàn không có chất lượng vì chúng đăng tất cả các bài miễn là tác giả có trả tiền. Các tạp chí mở loại này thiếu trung thực, thiếu trong suốt và ngay cả đăng các bài ngụy tạo, uốn nắn dữ kiện, đạo văn,…

Bản thân tác giả bài này cũng đã nhận được nhiều e-mail của các cá nhân hay các nhà xuất bản không có tiếng hay chưa bao giờ nghe đến. Các e-mail này đến từ Âu châu, Ấn Độ, Pakistan ngay cả Phi Châu mời viết để đăng bài cho tạp chí mở mới được thành lập. Theo Beall (3) thì một số các nhà xuất bản tạp chí mở này không nói rõ lệ phí, nhưng khi bài đã được đăng thì họ đòi tác giả lệ phi rất cao, thường là khoảng $1800US. Có khi tạp chí đòi phải ký giao bản quyền (copyright) (trái với tinh thần của tạp chí mở) và vì thế tác giả không thể rút bài và gởi đăng ở nơi khác được.

Nguy hại hơn là có tạp chí đã lấy tên một số nhà nghiên cứu khoa học có tiếng đề vào trong ban biên tập (Editorial board) của tạp chí mà không hề xin phép hay ngay chính nạn nhân cũng không biết là tên của mình có trên ban biên tập của tạp chí mở.

Trong mô hình tạp chí mở, khách hàng chính của tạp chí là các tác giả chứ không còn là thư viện các trường đại học, viện nghiên cứu và vì thế đối với một số các tạp chí mở, yêu cầu đòi hỏi về chất lượng của tạp chí để có nhiều khách hàng thư viện không còn là ưu tiên nữa.

Để có thể giải quyết được tình trạng xuống cấp về đạo đức trong nghiên cứu khoa học trong phương diện đăng bài khoa học và sự trung thật trong khoa học thì trước hết các tác giả công trình nghiên cứu phải kiên nhẩn không vội vã đăng bài vội vã và dễ dàng. Các thư viện lấy ra khỏi bản liệt kê mục lục (catalog) của mình các tạp chí mở bị nghi ngờ có gian dối vi phạm các qui tắc đạo đức trong nghiên cứu khoa học.

Nhưng những nhà khoa học cũng phải tự hỏi thước đo khả năng và hiệu quả và thành công của một nhà khoa học có phải chỉ là số lượng đăng bài hay không. Và hệ thống hiện nay về đăng bài trên các tạp chí có giúp cho chúng ta biết được thật sự khả năng nghiên cứu và thành quả cu/a một nhà khoa học hay không. Hay nó vẫn còn có nhiều khuyết điểm để có thể cho phép cho phép ta làm được điều đó (khả năng nghiên cứu và thành quả).

Đánh giá thứ tự đóng góp trong công trình có sự hợp tác của nhiều tác giả

Một vấn đề hiện nay vẫn còn khó khăn giải quyết đứng về phương diện công tâm và có liên quan đến đạo đức là đánh giá thứ tự ưu tiên ghi tên các tác giả trên các bài báo khoa học. Đây là một vấn đề rất quan trọng vì công bố công trình khoa học là một trong những mục tiêu quan trọng trong cuộc đời và sự nghiệp và trong lãnh vực hàn lâm thì nó là thước đo thành quả, khả năng nghiên cứu của một nhà khoa học.

Nếu bài đăng trên tạp chí là chỉ đứng tên một tác giả, người duy nhất hoàn thành kết quả nghiên cứu và viết bài này thì sự việc rất đơn giản. Giá trị của bài viết từ nội dung đên số lượng được các bài khác tham khảo hoàn toàn thuộc công sức của tác giả. Nhưng rất hiếm có những bài do một tác giả, thông thường thì có hai hay vài tác giả, có khi có đến hàng chục hay hàng trăm tác giả trong những công trình nghiên cứu lớn. Thí dụ một bài dài sáu trang đăng năm 2012 về khám phá hạt Higgs ở Large Hadron Collider, Phòng thí nghiệm vật lý hạt của Âu châu, CERN ở Geneva, có đến 7 trang dài ghi tên các tác giả (2). Tương tự các bài đăng về khám phá giải mã hoàn toàn hệ di truyền người (human genome) cũng có số lượng tác giả gần hay hơn trăm tác giả. Những bài như vậy thường thì mọi người trong phòng thí nghiệm có tham dự vào chương trình đều có tên trong danh sách xếp theo thứ tự theo mẫu tự. Vì thế không thể nào biết được bao nhiêu phần mỗi tác giả cống hiến vào thành quả khoa học.

Ngay cả các bài chỉ có vài tác giả, ta cũng khó mà có thể biết vai trò của mỗi tác giả trong công trình nghiên cứu từ thiết kế, thí nghiệm, phân tích cho đến viết bài. Thường thì tác giả đứng đầu trên danh sách trong bài viết là người quan trọng và đóng góp nhiều nhất và sau đó là thứ tự các tên tiếp theo. Nhưng cũng có các tạp chí trong các ngành khoa học sinh học thì vị trí cuối là quan trọng nhất, thường là người nghiên cứu chính điều hành phòng thí nghiệm và người đầu tiên thường là nghiên cứu sinh hay postdoc làm thí nghiệm và viết bài (1).

Sự liên hệ cá nhân, hay quan tương quyền lực chính trị trong môi trường nghiên cứu cũng quyết định thứ tự đứng tên trong danh sách tác giả. Vì thế đã có nhiều trường hợp có xích mích tranh cãi về vấn đề tác giả trong bài viết. Theo một thăm dò về những nhà nghiên cứu được quĩ tài trợ (grant) từ Viện Y tế Quốc Gia ở Mỹ (US National Institute of Health), thì 10% trong số những người trả lời trong thăm dò là họ đặt thứ tự tác giả không đúng thực chất (1).

Ủy ban Quốc tế các Ban biên tập Tạp chí Y khoa (International Committee of Medical Journal Editors, ICMJE) đã có ra hướng dẫn về đăng tên tác giả trong các bài khoa học đăng trên tạp chí mà nhiều tạp chí và các viện, đại học, cơ quan áp dụng. Theo đó một tác giả được đăng lên danh sách thì phải có 3 tiêu chuẩn chính:

(1)   tác giả phải có tham dự vào thiết kế công trình, thâu thập dữ kiện hay phân tích dữ kiện

(2)   tác giả có tham dự vào thảo ra bài viết hay sửa chữa bản thảo

(3)   Và tác giả phải chấp nhận bản hoàn tất cuối cùng và bài được đăng

Không cứ là có nhiều nhà khoa học theo bản hướng dẫn trên, có một số bài trên tạp chí có tên tác giả là do sự lịch thiệp được mời vào danh sách chứ tác giả ấy không có gì cống hiến quan trọng trong bài. Đối với tác giả được cho vào danh sách như vậy, cũng là lưỡi dao hai lưỡi. Khi bài trở thành nổi tiếng và quan trọng thì mọi người đề có danh trong công sức của công trình, và “tác giả khách” (guest author) cũng được tiếng. Nhưng nếu bài được đăng là bài bị cho là có vấn đề vi phạm đạo đức trong nghiên cứu thì tất cả mọi người, kể cả tác giả khách, bị tai tiếng. Như trường hợp bài ngụy tạo tế bào mầm của Woo Suk Huang, ở Đại học Quốc gia Seoul, gần đây đã gây tai tiếng cho nhà nghiên cứu tế bào mầm, Gerald Schatten ở Đại học Pittsburg, vì ông Schatten đã không cẩn trọng khi cho phép để tên mình vào bài viết vi phạm đạo đức trong nghiên cứu khoa học của Woo Suk Huang.

Vì thế gần đây các tạp chí như Nature, trong bài nghiên cứu, ít nhất đã mô tả sự cống hiến của mỗi tác giả dùng các từ chung không chi tiết lắm trong danh sách thứ tự các tác giả đăng trên bài nghiên cứu. Điều này đã loại bỏ được vấn đề “tác giả khách” nhưng cũng chưa cho ta biết được nhiều về sự cống hiến đầy đủ của mỗi tác giả.

Ngày nay thế giới kỷ thuật số và mạng Internet nối chứa các dũ liệu khổng lồ trên môi trường máy tính “mây” (cloud computing), làm dễ dàng hơn một hệ thống mới ghi đầy đủ hơn về via trò của mỗi tác giả trong công trình nghiên cứu có thể xuất hiện. Gần đây có các hồ sơ dũ kiện (database) các nhà nghiên cứu như ResearchID.com, BioMedExperts.com, ResearchGate.net cho phép các tác giả có thông tin, đánh giá các bài các tác giả khác,… (2). Các hồ sơ dữ kiện này có thể được nới rộng về sau này, cho phép các tác giả liệt kê ra những đóng góp mà mình đã làm trong công trình đã được công bố và mọi tác giả đều biết và kiểm những đồng nghiệp đã liệt khai trên hồ sơ dữ liệu.

Như Frishe (2) đã so sánh và cho thấy là những hồ sơ dữ kiện như vậy đã có trong kỹ nghệ phim ảnh từ lâu. Như ta biết, ở đầu và cuối mỗi phim đều có liệt kê tên của tất cả những người đóng góp và những gì mà mỗi người đã làm hay phụ trách làm nên cuốn phim. Tất cả những chi tiết này của các phim từ năm 1934 đến nay đã được chứa trong hồ sơ dữ kiên Motion Picture Credits Database của Academy of Motion Picture Arts and Sciences. Vì thế cũng giống như các nhà làm phim muốn tuyển mướn người có kinh nghiệm làm các vai trò trong phim đã dùng hồ sơ dữ liệu này để tra cứu, thì các cơ quan cấp tài trợ, viện nghiên cứu, các tạp chí cũng có thể tiếp cận tra cứu hồ sơ dữ liệu các đóng góp của tác giả, nếu được lập ra, để đánh giá tác giả một cách xác thực về khả năng và công trình của tác giả.

Hiệu quả của hệ thống bình duyệt (peer review)

Nói chung hệ thống bình duyệt tức thẩm định đánh giá công trình khoa học giữa các đồng nghiệp, do công đồng các nhà khoa học thiết lập là có thực lực và giá trị ít nhất là đã thực hiện được nhiệm vụ chọn lưa đuợc một cách tương đối chính trực các bài đúng thực chất để đăng trên tạp chí khoa học. Như ta biết, không có hệ thống nào hoàn hảo và hệ thống binh duyệt cũng có những khuyết điểm thí dụ như do nhân sự khi điểm bài đã không hoàn toàn công tâm. Hiện nay chúng ta không biết có hệ thống nào khác tốt hơn.

Hệ quả có những người thẩm định xem xét bài không công tâm, hay thiên vị về một thuyết hay phương pháp nào, cá nhân hay vì nhiều lý do thì một bài đáng giá, xứng đáng có thể không được đăng trên tạp chí. Vì thế vai trò của tổng biên tập tạp chí (Journal’s chief editor) rất quan trọng và cần hiểu biết rộng chuyên môn để có thể đánh giá và quyết định đúng mức trong những trường hợp như vậy trong quyết định cuối cùng của mình hay khi giao các bài cho những người binh duyệt, thẩm định.

peer review comic

(Nguồn: http://www.cartoonstock.com/directory/p/peer_review.asp)

Đối với những nhà khoa học có bài phải đi qua quá trình thẩm định thì hầu hết đều coi đó là cần thiết để nâng cao chất lượng của công trình nghiên cứu và của bài viết mình hoàn thành. Bài viết nghiên cứu khoa học có chất lượng và có tầm quan trọng đột phá trong ngành đều có số lượng trích dẫn cao và đó là thước đo chính xác nhất về khả năng, thành công trong nghiên cứu của tác giả.

Hảng Thomson Reuters đã dùng các số liệu trích dẫn của các bài nghiên cứu của nhiều tác giả để phân tích và tiên đoán những tác giả nào được giải Nobel trong các ngành hóa học, kinh tế, vật lý và y học. Từ năm 2002 đến 2012, Thomson Reuters đã tiên đoán đúng 26 người trong số những người được chọn qua tiên đoán dùng số trích dẫn mỗi năm ở các ngành trên (Reuters chọn đến 9 người mỗi ngành).

Qui luật về tư cách trách nhiệm đạo đức trong nghiên cứu khoa học ở Australia

Trong lịch sử khoa học ở Australia, có những nhà khoa học đã đóng góp rất lớn trong sự tiến bộ và phát triển qua các khám phá ở các ngành khoa học như W. Lawrence Bragg (Vật Lý, cấu trúc tinh thể qua X-ray), H. Florey (Y học, đồng khám phá trụ sinh Penicillin với Alexander Fleming), J. Cornforth (Hóa học, phản ứng enzyme), B. Marshall (Y học, khám phá vi khuẩn loét bao tử)…được biết tiếng nhiều nơi trên thế giới.

Nhưng cũng có giáo sư, bác sĩ William McBride được biết tiếng nhiều về vi phạm uốn nắn dữ kiện hơn là sự khám phá quan trọng của ông năm 1961 về thuốc Thalidomide (dùng chống ói cho phụ nữ mang thai) chính là nguyên nhân gây ra dị tật bẩm sinh, vì Thalidomide ảnh hưởng đến DNA khi các tế bào mầm phân ly. Khám phá của ông đã giúp các cơ quan chính phủ ở Âu châu, Mỹ, Australia và nhiều nước rút khỏi thị trường thuốc thalomide nguy hiểm này, nhưng sau khi thuốc đã gây thiệt hại cho nhiều gia đình. Khám phá này vẫn được coi là 1 trong 10 khám phá quan trọng nhất về y khoa ở Australia.

McBride sau đó đã bị đồng sự tố cáo là vi phạm uốn nắn dữ kiện trong một bài nghiên cứu về thuốc Debendox gây tật bẩm sinh. Ông đã bị truất khỏi danh sách đăng ký hành nghề bác sĩ ở Australia năm 1993. Sự rơi xuống về tiếng tăm tên tuổi của ông MacBride từ một nhà khoa học danh giá nổi tiếng xuống thành một người mà các nhà khoa học khác hay công chúng không muốn tiếp cận hay dính liếu đến là một bi kịch quá lớn cho cá nhân ông và sự xụp đổ niềm tin vào khoa học và nghiên cứu ở Australia.

Đây là vụ tiếng tăm được phổ biến rộng rãi trên báo chí, truyền thanh, truyền hình và làm quần chúng đặt câu hỏi nghi ngờ các kết quả nghiên cứu khoa học. Với bài học này từ cuối thập niên 1990s đã có qui luật về sự chính trực trong nghiên cứu khoa học và cuối cùng năm 2007, chính phủ Australia cùng với Hội đồng Y tế và Nghiên cứu Y khoa Quốc gia (National Health and Medical Research Council, NHMRC) và các đại học đã soạn ra Qui luật của Australia về tư cách trách nhiệm trong nghiên cứu (Australian Code for the Responsible Conduct of Research). Phần này trong bài sẽ mô tả các điểm chính dựa vào tập tài liệu của qui luật hiện đang áp dụng tại Australia.

Qui luật của Australia về tư cách trách nhiệm trong nghiên cứu (5) trước hết định nghĩa rõ ràng nghiên cứu là gì, phạm vi của hoạt động nghiên cứu khoa học và sau đó trình bày cơ cấu của qui luật theo đó cơ cấu được chia ra làm hai phần. Phần A mô tả những nguyên lý và thực hành để khuyến khích sự phát triển và áp dụng tư cách trách nhiệm của nghiên cứu, cho các viện, cơ quan nghiên cứu và những nhà khoa học làm việc ở những nơi này. Phần B cung cấp một khuôn khổ quá trình hành động để giải quyết sự tố cáo vi phạm qui luật nghiên cứu và tư cách nghiên cứu, đề cập đến trách nhiệm của cơ quan và người nghiên cứu.

Những nguyên lý cơ bản của nghiên cứu có trách nhiệm: Nghiên cứu được khuyến khích và hướng dẫn bởi văn hóa nghiên cứu của cơ quan. Văn hóa nghiên cứu vững chắc khi có

–         Thành thực và chính trực

–         Kính trọng những người tham gia nghiên cứu, thú vật và môi trường

–         Xử dụng tốt hiệu quả tài sản chung của công chúng dùng để nghiên cứu

–         Công nhận đúng vai trò của những người khác trong nghiên cứu

–         Truyền đạt có trách nhiệm các kết quả nghiên cứu

Để giử được môi trường nuôi dưỡng nghiên cứu có trách nhiệm thì cơ quan và các nhà nghiên cứu phải có những trách nhiệm trong đó cơ quan phải cho nhân viên biết tất cả các hướng dẫn, qui luật về đạo đức trong nghiên cứu, tạo môi trường mà hành xử đạo đức trong nghiên cứu được phát huy. Cơ quan nên có những áp dụng thực hành quản lý tốt theo đó nghiên cứu được xem xét dựa trên chất lượng, an toàn, riêng tư, quản lý rủi ro, tài chánh, va đạo đức chấp nhận được, phù hợp với luật pháp, điều lệ. Huấn luyện nhân viên về đạo đức nghien cứu và tạo môi trường nghiên cứu an toàn.

Đối với nhà nghiên cứu thì phải luôn giử tuyên chuẩn cao trong nghiên cứu trong đó nhà nghiên cứu phải

–         Trọng sự thật và các quyền của những người ảnh hưởng trong nghiên cứu

–          Quản lý sự xung đột các lợi ích (conflict of interests) làm sao mà sự thăng tiến, lợi lộc cho cá nhân không làm mất đi các xét đoán đạo đức và trọng tâm là sự thăng tiến thông thái và tri thức.

–         Dùng phương pháp thích hợp để đạt được mục đích của nghiên cứu

–         Áp dụng các cách làm việc đúng để bảo đảm an toàn và an ninh

–         Ghi rõ các giải thưởng, bằng cấp và các công bố khoa học chính xác

–         Khuyến khích cho sự chấp nhận bản qui luật đạo đức này và tránh đi ra khỏi  cách hành xử đạo đức có trách nhiệm trong nghiên cứu

–         Thực thi đúng các chính sách của cơ quan và các tổ chức tài trợ cho nghiên cứu

Nhà nghiên cứu nên công bố, phát tán một cách trách nhiệm kết quả nghiên cứu, kính trọng những người tham gia nghiên cứu, thú vật và môi trường. Nếu biết được có thể có sự vi phạm đạo đức xảy ra ở nơi sở tại thì phải thông báo kịp thời dựa vào chính sách của cơ quan. Nếu giử kín và không thông báo thì cũng là vi phạm đạo đức nghiên cứu.

Gần đây, bổ sung cho sự chính trực trong các qui trình đạo đức trong nghiên cứu khoa học là các hoạt động của các nhà chuyên môn nghiên cứu khoa học là lập ra các blog để theo dõi và thông tin về những gian lận trên các tạp chí như Retraction Watch (http://retractionwatch.wordpress.com/), ScholarlyOpenAccess  (http://scholarlyoa.com/).

Về quản lý các dữ kiện thâu thập được trong nghiên cứu và các vật, tư liệu chính gốc (primary), các cơ quan phải có trách nhiệm giử gìn những dữ kiện, tư liệu này thông thường ít nhất là 5 năm sau khi đã công bố bài nghiên cứu, cung cấp nơi chứa các dữ kiện và các tiện nghi giử lại các hồ sơ thật an toàn, định ra ai là sở hữu các dữ kiện, tư liệu này (thường là cơ quan làm nghiên cứu hay cơ quan tài trợ nghiên cứu), giử an toàn và sự riêng tư không được tiết lộ nếu là dữ kiện đã được thỏa thuận cẩn mật là có tính chất đời sống riêng tư.

Người nghiên cứu phải giử lại các dữ kiện chính gốc (primary materials) này sau khi công bố trong thời gian khi vẫn còn có sự chú ý và bàn luận có liên hệ đến nghiên cứu. Nếu kết quả nghiên cứu bị thách thức thì tất cả những dữ kiện, tư vật liệu liên quan phải được giử lại cho đến khi vấn đề được giải quyết. Hồ sơ nghiên cứu có liên quan đến sự tố cáo vi phạm đạo đức nghiên cứu thì tuyệt đối không được hủy.

Về hướng dẫn những người tập sư nghiên cứu, cơ quan phải có trách nhiệm thành lập tiêu chuẩn hướng dẫn đào tạo. Mỗi tập sự nghiên cứu phải có một người thầy đủ khả năng hướng dẫn nghiên cứu và làm người tập sự viên hiểu sự quan trọng của qui luật đạo đức trong nghiên cứu. Người thầy hướng dẫn có trách nhiệm đào tạo người tập sự các phương pháp nghiên cứu thích hợp, sự phát triển khả năng nghiên cứu và quan tâm đến kết quả nghiên cứu của người tập sự. Người hướng dẫn bảo đảm người tập sự nhận đúng mức phần công sức đóng góp vào kết quả nghiên cứu. Cuối cùng người tập sự cũng có trách nhiệm có thái độ chuyên nghiệp trong nghiên cứu, tích cực tìm sự cố vấn của giáo sư hướng dẫn.

Về công bố, truyền bá kết quả nghiên cứu, viên hay cơ quan nghiên cứu có trách nhiệm tạo, khuến khích môi trường thành thật, chính trực, chính xác và trách nhiệm trong sự công bố, phổ biến kết quả nghiên cứu, bảo vệ sự riêng tư qua sự thỏa thuận của các bên và quản lý tài sản trí tuệ (intellectual property), ủng hộ truyền bá kết quả nghiên cứu đến công chúng. Người nghiên cứu có trách nhiệm công bố tất cả kết quả nghiên cứu, thật đầy đủ nếu có thể được, kể cả kết quả trái với giả thuyết, lý thuyết của mình. Khi công bố phải để ý đến những giới hạn liên quan đến tài sản tri tuệ, những dữ kiện văn hóa nhạy cảm.

Nhà nghiên cứu phải bảo đảm sự chính xác trong sự công bố phổ biến kết quả nghiên cứu, nếu có những câu không chính xác hay dẫn tới hiểu lầm thì phải sửa lại càng sớm càng tốt. Trích dẫn những công trình, kết quả của các nhà nghiên cứu khác đúng mức và chính xác. Dùng kết quả, công trình của người khác mà không công nhận ho là trái với đạo đực nghiên cứu. Không được công bố cùng một kết quả nghiên cứu ở các tập san khác nhau. Khi in lại bài, phải xin phép nhà xuất bản tập san đã đăng bài. Kê khai chính xác tất cả nguồn cung cấp tài chính, đóng góp nhân lực, tư liệu cho nghiên cứu và tất cả xung đột lợi ích có thể có. Công bố có trách nhiệm kết quả nghiên cứu đến công chúng: không nên có thảo luận kết quả nghiên trên công luận cho đến khi kết quả đã được thử nghiêm xong qua quá trình binh duyệt.

Về tác giả trong báo cáo hay bài viết về công trình nghiên cứu, để được là tác giả, nhà nghiên cứu phải có đóng góp hàn lâm không nhỏ vào công trình và có khả năng nhận trách nhiệm ít nhất một phần của công trình mà nhà nghiên cứu đóng góp. Tùy theo ngành khoa học, nhưng trong tất cả các trường hợp, quyết định ai là tác giả phải dựa vào những đóng góp một hay nhiều lãnh vực sau:

–         Ý niệm và thiết kế công trình

–         Phân tích và diễn giải dữ kiện nghiên cứu

–         Viết các phần của công trình hay phê bình, duyệt phê chuẩn lại bản thảo đóng góp vào sự diễn giải

Nếu chỉ cung cấp vật liệu, hay hậu thuẩn kỹ thuật, đo đạt lấy dữ kiện thì không đủ cống hiến trí tuệ để có quyền tác giả. Quyền được là tác giả cũng không dựa vào chức vụ trong cơ quan. Nếu người nghiên cứu là người tình nguyện không có lương thì họ cũng được quyền tác giả nếu có đóng góp như trên

Về hệ thống bình duyệt, nhà nghiên cứu có trách nhiệm phải tham dự vào xét duyệt bài và nếu nhà nghiên cứu được chọn là người duyệt xét bài thì phải cho biết tất cả các xung đột lợi ích nếu có và phải công tâm, duyệt bài trong thời gian cho phép (không để quá lâu), kín đáo không tiết lộ nội dung hay kết quả trong quá trình tham dự binh duyệt. Không chấp nhận tham dự duyệt xét nếu lãnh vực đó không thuộc sở trường hay chuyên của mình.

Trên thực tế, như đã đề cập đầu bài, có một số người duyệt xét bài không thật sự công tâm, có thể là nhiều lý do như do sự thiên vị một phương pháp hay lý thuyết khác, không thấu hiểu đầy đủ công trình nghiên cứu, hay có thành kiến cá nhân với tác giả. Vì thế vai trò của tổng biên tập rất là quan trọng. Tổng biên tập nên hiểu biết không những ngành chuyên môn của mình mà còn phải hiểu nhiều lãnh vực nghiên cứu của các người trong ngành và ấn định đúng người để duyệt xét bài nghiên cứu

Kết luận

Vấn đề vi phạm đạo đức trong lịch sử nghiên cứu khoa học theo tiêu chuẩn của qui luật hiện nay thì đã xảy ra từ lâu và tùy theo thời điểm, mức độ và tính cách của hành động vi phạm trong nhiên cứu, nó đã được chấp nhận hay xảy ra bình thường trong thời đại đó. Qua những sự kiện xảy ra gây tăm tiếng không tốt đẹp và xã hội đặt câu hỏi về sự chính trực trong khoa học, đã có những qui luật được đặt ra từ giữa thế kỷ 20 cho đến ngày nay để đặt quá trình nghiên cứu khoa học vào một khuôn khổ đạo đức mà cộng đồng nghiên cứu và xã hội chấp nhận được.

Hiện nay hệ thống binh duyệt giữa các đồng nghiệp (peer review) vẫn là hệ thống duy nhất để đánh giá khách quan giá trị của công trình nghiên cứu. Ngày nay do môi trường nghiên cứu thay đổi nhanh chóng và khác nhiều so với trước đây, điều này đã đưa ra nhiều tình huống tranh cãi, thảo luận và các đề nghị để cải tiến như đã trình bày ở trên về mô hình mở trong xuất bản tạp chí và làm sao xác định đúng sự cống hiến của mỗi tác giả trong công trình nghiên cứu.

Trong bài này chúng tôi cũng đã trình bày một số điểm chính yếu của qui luật đạo đức trách nhiệm trong nghiên cứu khoa học ở Australia. Những nguyên lý và chi tiết áp dụng cũng không khác nhiều với các qui luật của các nước đã phát triển khác, với mục đích là tạo ra một văn hóa nghiên cứu chính trực. Qui luật này vạch rõ trách nhiệm của cơ quan hay tổ chức nghiên cứu và nhà nghiên cứu. Nó cũng lập ra một khuôn khổ môi trường để thực hiện, áp dụng và giải quyết vấn đề vi phạm đạo đức trong nghiên cứu nếu xảy ra.

Tạo được văn hóa nghiên cứu đạo đức có trách nhiệm là điều kiện tiên quyết để có một nền khoa học vững chắc và thuc đẩy sự phát triển, tiến bộ khoa học có chất lượng đóng góp vào sự phát triển của một xã hội. Với cảnh quan về tình hình nghiên cứu và giáo dục ở Việt Nam, thì điều này hiện nay thật cần thiết.

Tham khảo

(1)   Amber Dance, Who’s on first, Nature, Vol. 489, 27 September 2012, pp. 591-593

(2)   Sebastian Frische, It is time for full disclosure of author contributions, Nature, 27 September 2012, Vol 489, pp. 475

(3)   Jeffrey Beall, Predatory publishers are corrupting open access, Nature, 12 Sept. 2012, Vol. 489, pp. 179.

(4)   Zoe Corbyn, Misconduct is the main cause of life-sciences retractions, Vol. 490, 7418, 4 Oct 2012, pp. 21.

(5)   Australian Government, National Health and Medical Research Council, Australian Research Council, Universities Australia, Australian Code for the Responsible Conduct of Research, 2007. http://www.nhmrc.gov.au/_files_nhmrc/publications/attachments/r39.pdf

(6)   Marcel LaFollette, The evolution of the”scientific misconduct” issue: an historical review, Exp Biol Med September 2000 vol. 224 no. 4 211-215.

(7)   Horace Freeland Judson, The Great Betrayal: Fraud in Science, Hartcourt Inc., 2004..

(8)   Colin Stoneking, Hoaxing, Forging, Trimming and Cooking: The Cases and Causes of Scientific Fraud, The Triple Helix, Lent 2011, http:// www.camtriplehelix.com/journal/issue/12/hoaxing-forging-trimming-and-cooking-the-cases-and-causes-of-scientific-fraud/pdf

(9)   Daniel Hartl, Daniel Fairbanks, Mud Sticks: On the Alleged Falsification of Mendel’s Data, Genetics March 2007 vol. 175 no. 3 975-979.

(10)                       Citation – Nobel prizes predicted, Nature, 7 Sept. 2012, Vol. 489, pp. 593.

Advertisements

About hiepblog

Nhà nghiên cứu khoa học

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s