//
you're reading...
Chính Trị, Lịch sử, Môi trường, Xã Hội

Quân Tây Ban Nha gốc Phi đắm tàu ở đảo Tri Tôn, Hoàng Sa 1861

Biển và đảo ở Biển Đông có một số sự kiện gắn liền với lịch sử hàng hải Việt Nam và sự quan hệ này củng cố chủ quyền Việt Nam trên các quần đảo ở Biển Đông. Nhưng đặc biệt hầu như không ai để ý hay biết đến sự kiện là trong lúc quân đội viễn chinh Pháp và Tây Ban Nha rút khỏi Đà Nẳng thì chuyến tàu chở 1100 lính Tây Ban Nha gốc Phi Luật Tân, trên đường trở về Manila trên tàu l’Europe đã bị đắm ở rạn san hô gần đảo Tri Tôn trong quần đảo Hoàng Sa cùng với các thủy thủ và sĩ quan quân Pháp. Họ đã trú trên đảo Tri Tôn và trãi qua những khổ ải và sóng gió trong thời gian dài trước khi những người đắm tàu được cứu sống.  Cuộc phiêu lưu của những người lính Phi trên quần đảo Hoàng Sa đã được kể chi tiết do những người sống sót kể lại.

Một số những người lính Tagal sau hòa ước, thay vì trở về Phi Luật Tân năm 1863, đã ở lại và một số thức tỉnh gia nhập nghĩa quân chống lại Pháp. Ở Saigon, theo Charles Lemire, có khoảng một trăm người Tagal ở lại và lập thành một cộng đồng, họ lấy người Việt Nam và hòa đồng rất nhanh với người Việt.

Pháp sau khi đã chiếm và phá thành Saigon, đề đốc Rigault de Genouilly trở lại Đà Nẵng vào tháng 4 1859 và để tiếp tục chiến dịch đánh giải vây quân đội Pháp-Tây Ban Nha đang bị áp lực. Rigault de Genouilly để lại tại Saigon một lực lượng khoảng 1000 quân do đại úy Bernard Jauréguiberry chỉ huy giử một chân đứng tại vùng Gia Định. Ở Đà Nẵng, Genouilly nổ lực đánh để đi đến một giải pháp chính trị ngoại giao nhưng không có kết quả do triều đình từ chối bất cứ điều kiện nào. Quân Pháp-Tây Ban Nha tiếp tục bị quân triều đình do Nguyễn Tri Phương lãnh đạo vây đánh và kháng cự.

Qua những phí tổn chiến tranh lâu dài, việc Pháp và Tây Ban Nha sẽ rút khỏi Đà Nẵng chỉ là thời gian. Trong cuộc rút lui khỏi Đà Nẵng có một sự kiện mà ít ai để ý. khi đoàn quân viễn chinh rút lui, đó là vụ đắm tàu Europe, chở quân lính Tây Ban Nha gốc Phi trở về thủ đô Manila, gần đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa.

Theo tuần báo Le Monde Illustré 14/06/1862 đây là vụ đắm tàu hi hữu xảy ra vào năm 1861 và câu chuyện về sự sống còn của hơn 1100 người trên đảo Tri Tôn đã được kể lại với nhiều chi tiết lý thú và có giá trị lịch sử nhân văn. Không lâu trước đó tàu Méduse bị đắm ở Tây Phi và câu chuyện sống sót của những ngừi đắm tàu trên bè đã làm chấn động dư luận Pháp và Âu châu.

Bài viết kể lại chuyện cứu người đắm thuyền ở đảo Tri Tôn trong thời điểm Pháp rút khỏi Đà Nẳng và đang đánh Saigon trong trận chiến đồn Kỳ Hòa cho ta nhiều thông tin quí giá. Đảo Tri Tôn mặc dù hoang vắng thuộc chủ quyền của Việt Nam, thuyền trưởng Brunet là người kinh nghiệm hàng hải lâu năm ở Viễn Đông và người Pháp gọi tên đảo là Tri Tôn theo tiếng Việt. Các thuyền quốc tế như Anh, Mỹ trong giai đoạn sau này khi đắm ở Hoàng Sa đều cầu cứu chính quyền Pháp ở Đà Nẵng hay Saigon.

Sau khi bị đắm, tất cả mọi người dùng các ca nô và thuyền dự trữ cứu cấp lên đảo Tri Tôn. Một thủy thủ đoàn gồm 12 người và 1 viên sĩ quan tình nguyện đã chèo một chiếc thuyền buồm nhỏ mỏng manh theo gió mùa Đông Bắc đi từ đảo Tri Tôn hy vọng về được Đàng Trong hay Nam Kỳ để kêu cứu cấp. Ai cũng tưởng, và hầu như tất cả những người bị đắm trên đảo cũng cho là một cuộc đi như vậy là vô vọng trên biển cả, nhưng thật là thần kỳ thuyền của 13 người đã vào được đến cảng Saigon trong một tuần hơn, một kỷ lục hàng hải thời bấy giờ. Saigon lúc đó đang chứng kiến giai đoạn đầu của trận chiến đồn Kỳ Hòa giữa quân Pháp và quân triều đình do Nguyễn Tri Phương lãnh đạo.

Hơn 1100 người sống ở đảo Tri Tôn trong hai tuần và đã để lại các vật dụng như bếp chưng nước, các thùng rượu cả mấy chục ngàn lít, xác tàu Europe ở bãi đá ngầm san hô, … Những gì đã xảy ra cho những di tích hàng hải này, hiện nay ta chưa biết rõ.

Đây là bản dịch nguyên văn của sự kiện này mà cho đến nay không nằm trong chính sử và hầu như không ai biết hay để ý đến

“Kỷ niệm cuộc viễn chinh ở Đàng Trong

  1. Féré và J. Cauvain kể lại

Một ngàn một trăm người trên tàu Europe bị đắm.

Dường như  nói chung do sự rất dễ dàng của thông tin liên lạc từ nhiều dịch vụ đường bộ và đường biển, từ những tiến bộ to lớn đã dạt được từ hai mươi năm qua trong lãnh vực truyền thông quốc tế, tất yếu phải đi đến hoàn thành, ở bất cứ điểm nào trên địa cầu, một biến cố quan trọng hay một tai họa bất thường mà sự việc ngoại lệ này không được biết và phát rộng ra nhiều chi tiết đầy đủ lan ra khắp nơi với một vận tốc gần giống như truyền điện khí

Thế mà, đắm tàu, có thể là sự kiện chưa có  tiền lệ, mà chúng tôi tiếp cận đến, hầu như hoàn toàn bị bỏ qua; nhiều lắm là chỉ vài dòng mơ hồ không rõ trong các tờ báo lớn và tờ Moniteur đề cập nói đến nó; thậm chí đó cũng chính là loại bất trắc mà chúng ta có thông tin về đủ loại các biến cố khác nhau, và chúng tuy vậy, tất không nhắc đến những loại quá nổi tiếng như là tàu Méduse (*) bị đắm, không mang lại sự chú tâm hứng thú nào

Không trở lại Pháp, sau khi bị thương nặng, một sĩ quan hải quân hoàng gia của chúng ta, công tác trong cuộc viễn chinh Đàng Trong, và đóng vai trò chính trong kết cuộc của bi kịch hàng hải của tàu chuyên chở l’Europe, nếu không có những tường trình từ gia đình của viên sĩ quan hàng hải gan dạ và khiêm tốn này với một trong hai tác giả của chuyện kể này thì chắc rằng biên niên sử của các vụ đắm tàu lớn sẽ kể nó vào ít nhất một trang sách cảm động – Nhưng nhân vật khác có khả năng kể vào trang sách chính này hiện nay vẫn còn lao trộn, ở xa đất mẹ của họ, vào các sự việc được coi là chính thức, công việc vận hành thu hút tâm trí của họ hoàn toàn, và sự quan trọng nói chung của nó xóa đi sự kiện đắm tàu, mộ tsự kiện rất cá nhân đối với họ, một chương hàng hải khủng khiếp nay thuộc quyền sở hữu của báo Monde Illustré  – bộ sách lớn giữ gìn lịch sử thế giới trong thời đại của chúng ta – ghi lại từng cảnh một trong các cột viết của tờ báo để bảo tồn những kỷ niệm và làm phong phú với hình ảnh ký họa gây tiếng vang và chú ý rộng lớn trong công luận.

Trở lại vào thời kỳ, lúc mà sự rút quân từ bỏ bán đảo Đà Nẳng được quyết định, tổng tư lịnh lực lượng Pháp ở Đàng Trong phải nghĩ đến di chuyển ảnh hưởng bảo hộ của mình vào Saigon, nơi mà người ta suy xét là có các lợi điểm thương mại lớn hơn nhiều: đó là năm 1859. Mặc cho giá trị tài chính của các cơ sở chúng ta trên bờ biển này – các cơ sở này đã tốn bốn mươi triệu đồng, cộng với phí tổn viễn chinh trong thời gian từ lúc chúng được thiết lập – tình hình của chúng ta trở nên càng ngày càng khó khăn trong đế quốc An Nam. Người bản sứ thấy chúng ta ngay ngưỡng cửa thủ đô họ, nên họ đã giăng ra một cuộc kháng cự, kháng cự này báo trước cho thấy một chuổi các chạm trán lâu dài và tốn kém.

tagal-mondeillustre

Hình 1 – Lính Tagal (gốc Phi Luật Tân) trong quân đội viễn chinh Tây Ban Nha ở Đàng Trong

Về phương diện khác, sau khi ủng hộ những nổ lực của quân đội chúng ta, lúc khởi đầu của cuộc viễn chinh với mục đích chính là trả thù cho người linh mục tử đạo và trừng phạt dân tộc giết những người theo đạo ki-tô, những binh lính phụ trợ do nước công giáo Tây Ban Nha cung cấp chứng kiến ý định rời khỏi cuộc chiến đẩm máu. Viên toàn quyền tư lệnh ở Manille đang cần lính cho một cuộc hành quân trở nên khẩn cấp ở đảo Mindanao.

Vì những trường hợp như đã nói trên, các người chỉ huy của quân đội đồng minh quyết định gởi cho ông toàn quyền một đội quân của binh đoàn viễn chinh Tây Ban Nha, tức là gồm những sĩ quan người gốc Tây Ban Nha là phần lớn và các lính bản sứ người Phi (tagals). Những người lính Phi (Tagals), họ thuộc chủng tộc bản sứ ở đảo Luçon và lập thành đa số các tiểu đoàn ưu tú ở các thuộc địa Á châu của Tây Ban Nha. Như chúng tôi đã viết ở trên, những sĩ quan và hạ sĩ quan của họ là từ chính quốc, nếu không thì ít nhất là khi sanh đã có dòng máu Tây Ban Nha. Đây là loại lính xipai (chú thích dịch giả: cipaye, lính bản sứ trong các binh đoàn Anh hay Pháp) xuất sắc, thanh đạm, kiên nhẩn và hơn hết là gan dạ trong chiến đấu. Đồng phục của họ rất bình thường giống như tính tình của họ, gồm một áo veste, một quần dài có sọc bằng vải bông, với một nón rơm mủi nhọn trên chóp và phủ che bằng một loại vải dầu không ướt. Nhưng đạo công giáo mà họ theo từ gần 4 trăm năm nay, và họ thực hành một cách thành thật mù quáng, nhiệt tình phấn khởi ngây thơ, tính cả tin vô lý mà họ áp dụng từ xa xưa vào sự tôn thờ các thần thánh của họ dường như không làm gì khác hơn là phát triển những bản năng mê tín của họ

Họ đương đầu với nguy hiểm mà họ biết, họ run sợ trước những hiểm nguy mà họ không biết đến bản chất hay họ chỉ có linh cảm. Những chuổi tràng hạt, mề-đay, khăn choàng vai phủ đầy ngươi họ; nhưng những vật sùng đạo này đối với họ chỉ là thay thế những bùa ngày xưa của họ, bùa hộ mệnh cổ xưa của họ: họ không có vươt qua hình dạng tượng trưng

Những người Tagals không bỏ lỡ áp dụng thói quen như thường lệ của họ để biết xem chuyến đi này có bình an may mắn hay không, và người ta nói rằng có vài người cho thấy là chuyến đi không ổn và u ám ngay trước khi khởi hành. Tuy vậy không có gì phải sợ về những điềm gở này, và trái lại tất cả chỉ ra cho thấy là chuyến băng qua biển tốt và nhanh

Tàu l’Europe chuẩn bị vào những ngày đầu của tháng ba; gió mùa đông bắc thổi rất dữ dội, cho ta biết rằng khoảng bảy hay tám ngày tàu sẽ đến nơi, bởi vì đường đi chỉ có khoảng ba trăm năm mươi dặm, và người ta biết rằng gió mùa là loại gió có chu kỳ tuyệt đối.Trong lúc đó, sau ngày mai lúc vừa ra khỏi vịnh Đà Nẳng, tàu chuyên chở gặp biển lặng làm cho nó phải đi ngoắt ngéo quanh co kéo dài 15 ngày gần bờ biển đảo Hải Nam, hứng chịu những luồng nước bất chợt thất thường và mạnh mẻ, luôn thay đổi về cường đôộ à phương hướng ở những nơi này.

Những người lính Phi vẫn trầm tỉnh nhưng trầm mặc, ít nói. Một số những người trong họ, lúc trước đã có nói cho các bạn họ về sự lo âu sợ hải trước khi lên tàu, thì nay họ được người ta thường xuyên đến hỏi cho cố vấn. Họ say đắm vào sự trẻ con đoán mò tư biện trong sự sùng bái thần thánh của họ.

Cuối cùng thì gió mùa thổi lên lại, những cánh buồm căn phồng dưới gió mát, tàu l’Europe đạt vận tốc bảy đến tám hải lý một giờ.

Đoạn nguy hiểm duy nhất trên đường đến Manille, nằm ở vị trí địa lý gần vĩ tuyến song song với Đà Nẳng, đó là quần đảo Hoàng Sa, những đảo này nhỏ hoang vắng rất thấp, gồm các bãi cát bao quanh bởi các vòng san hô ghê gớm, trên đó biển bị cắt và luôn bị hành hạ bởi các luồng nước sống động luôn luôn mạnh mẻ và thay đổi hướng mỗi phút. Thuyền trưởng Brunet, quen với những sự khó khăn khi lái tàu trong quần đảo vùng Trung quốc, hiểm nguy trong tất cả loại, quyết định đi xuống về hướng tây, cách vài dặm đảo Tri Tôn điểm cực tây của những trở ngài đá ngầm này.

Ông ta tính là dựa vào gió mùa, ở vĩ độ này, sẽ đẩy tàu ông ra khỏi nơi nguy hiểm đáng sợ này. Ông kế đó quay tàu với đầy tin tưởng về sự an toàn sau khi đã vượt qua nó ; trong khi tiếp tục con đường thẳng tới Manille, gió mùa chu kỳ từ hướng đông bắc lại có khuynh hướng đẩy tàu của ông vào chính giữa quần đảo Hoàng Sa

Sự thay đổi đường đi của tàu Europe được đưa cho viên sĩ quan có phận sự vào lúc tám giờ tối, điểm này được ghi đúng ngay trên bản đồ. Vào lúc năm giờ sáng là phải đi qua các đảo Tri Tôn tám hay mười dặm.

Thời gian là tốt nhưng bầu trời rất ảm đạm. Những người lính Phi chung nhau cầu nguyện, và ngoại trừ những người canh gác, thủy thủ đoàn và hành khách ngủ chẳng bao lâu không có một bóng vết sợ hãi nào

Sự thức dậy xảy ra thình lình và ghê gớm

Vào lúc ba giờ tối khuya, người thủy thủ đứng canh la với xúc cảm thống thiết

– Đá ngầm phía trước !…

Tiếng của anh ta bị mất giữa tiếng động đục và sâu, như tiếng sấm lăn đổ. Một vài giây sau, một chuyển chuyển dữ dội ghê hồn làm rung chuyển lung lay tàu Europe từ sống tàu lên đến cột buồm, và làm văng  hầu hết những người đang ngủ.ra khỏi võng. Có một giây phút mơ hồ lộn xộn không thể diễn tả được trong đám người này, bị bứng thình lình ra khỏi sự nghĩ ngơi bởi một nguyên nhân không giải thích được, nhưng hiển nhiên là kinh hoàng, đột nhiên trong trạng thái chưa mặc đồ nửa trần truồng trong bóng tối và hoảng sợ. Kế đó, trong chớp mắt, thủy binh và lính phóng lên bong tầu

 triton1

triton2

Hình 2– Trên: Đảo Tri Tôn (trại của những người bị đắm tàu) – tàu l’Europe đắm vì đụng san hô góc phải phía trên Dưới: Cảnh đắm tàu l’Europe (trái), Bên trong túp lều của những người đắm thuyền (đảo Tri Tôn) – Nguồn: tuần báo Le Monde Illustré 14/06/1862.

Những người lính Phi, trong không gian giữa hai bong tàu, không thể hiểu hơn gì về lý do tình trang báo động của họ, điều này càng làm cho họ hốt hoảng thêm, Họ đã có khuynh hướng nhảy vào sóng biển một cách mù quáng, trốn chạy, theo thói quen của họ, khi có hiểm nguy trong sự mất mát chắc chắn, thì lúc đó các sĩ quan của ho, trước sự sợ hải ban đầu nhận diện ra là do tai nạn,  đã tỏa ra trong hàng ngũ lính Phi, và cố gắng làm yên lòng họ, hay ít nhất làm yên đi loại mê sảng của họ

Thuyền trưởng Brunet cùng thời gian đó ra lệnh kéo buồm sao cho tàu đi ngược lại, để con tàu thoát khỏi chướng ngại vật, mà phia trước tàu thúc tới.Tất cả thủy thủ đoàn vâng lệnh hăng hái thi hành.. Các cố gắng đều vô hiệu !. Thân tàu gãy giống như nó tự xé ra.nhưng võ tàu không có lùi lại đường nào: người ta nói rằng như một cái răng khổng lồ cắn con thuyền và làm nó bất động…Mặc dù vậy, thợ xảm (trám) thuyền chính chạy xuống hầm tàu, và run rẫy thấy nước tràn vào rất nhanh.

– Tất cả mọi người vào bơm nước ! thuyền trưởng Brunet ra lệnh, nếu không trong vài tiếng tàu sẽ bị chìm.

Nhưng một ngàn một trăm người lính Phi vừa trãi qua một sự náo động tuyệt vọng làm họ lờ đờ ngu xuẩn; nhóm quân bất động của họ làm trở ngại trên bong tàu và làm phiền cho sự chuyển động của các thủy thủ Pháp. Những sĩ quan Tây Ban Nha cố gắng lần nữa thúc đẩy những cái xác đang sống này. Cuối cùng họ đạt được khi hứa với các lính Phi là Đức mẹ đồng trinh và các thiên thần sẽ đến giúp họ nếu chính họ thi nhau họp lại cứu rỗi họ bằng cách bơm nước không buông thả.

Trong khi tất cả các lính làm việc cật lực để ngăn chặn đường nước, bốn mươi thủy thủ thu buồm lại, chúng đã trở thành vô dụng và họ xếp chặt buồm lại

Màn đêm tối luôn lúc nào cũng không thấy xuyên qua được, trừ ở mủi tàu chìm trong nước thì thấy sôi sục ầm ỉ và sủi bọt. Thêm vào sự ghê sợ khi thấy được những sự này ở mủi tàu và vào nổi lo âu của những người lãnh đạo trên tàu là sự không thể nhìn nhận ra việc gì chung quanh. Nơi nào mà họ bị ngã đỗ ? Tại sao có sự tiêu tán này, khi mà theo khoa học địa lý thủy văn thì không có gì phải lo sợ đêm hôm đó ? Vậy thì ai đã làm lủng tàu ở chổ này ?. Nếu tàu đắm hay hở cho nước tràn vào, có các phương cách nào để giải thoát hay không ? Những câu hỏi kinh khủng mà cuối cùng vào lúc ban sáng bắt đầu cho câu trả lời. Từ từ, dưới ánh sáng vẫn còn chưa rõ, một đường trắng dài khoảng vài trăm mét ở khoảng nữa dặm trước tàu Europe. Đó là bờ cát, mà rất chắc chắn đó là bờ cát của đảo Tri Tôn mà theo dự tính là người ta phải bỏ cách nó xa ở hướng đông, theo ước tính toán học. Trong lúc ấy, một chút hy vọng trở lại vào lòng tất cả mọi người khi nhìn thấy đảo này, một điểm cao trên mực nước biển mặc dầu đảo rất nhỏ, mà sóng dường như có thể phủ toàn kín nó: đảo ít nhất cho một chổ trú tạm thời chắc chắn hơn là ở trên tàu, vì đuôi tàu có khuynh hướng từ từ bị nhận chìm, mặc dầu có những người lính Phi dang cố gắng kiệt sức bơm nước ra.

– Đúng vậy, nếu giải đất khô này, nhưng chắc chắn, cứng cỏi qua diện mạo, trong thực tế không phải là cát lún, tức đúng hẳn là một mồ chôn mặc dầu chỉ nuốt chửng từ từ  bất cứ ai đứng trên đó, vị thuyền trưởng lẩm bẩm nói thầm trong sự lo âu. Ông ta quyết định làm sáng tỏ sự nghi ngờ khủng khiếp này ngay lập tức.

Một ca nô được đặt xuống biển, ở phía bên đó gần đảo sâu 80 mét vàở gần các bãi đá ngầm 3 mét, biển yên lặng khắp nơi giữa nhừng đá san hô này, những san hô cách bờ khoảng 150 sải, nhô lên lập thành giống như vòng vươing mện ; ca nô rất chòng chành gần như lật úp , khi băng qua vòng cản này ; cuối cùng tàu ca nô đáp vào bải đất mơ hồ chưa biết này, thăm dò nó, và khám phá ra nó là đất chắc cứng không lún !

Tất cả đều không bị mất hẳn hoàn toàn!

Vào lúc mặt trời mọc, ông Brunet kêu gọi họp hội đồng, với đại tá Tây Ban Nha, ông Francisco Valverde và vài sĩ quan cao cấp. Ông ta cho họ biết là những dòng nước, thay vì giúp tàu Europe đi quá tám dặm về phía tây cách phần cực tây của quần đảo Hoàng Sa, như ông đã định vị tính theo địa lý, nhưng tàu đã bị kéo đi thình lình và hi hữu bởi độ biên lệch đến gần hai mươi dặm về hướng đông, vào ngay chính trên những san hô bao quanh của quần đảo này. Khía răng nhọn của bãi đá ngầm đã làm thủng và cầm giử lòng tàu chuyên chở Europe, và vì thế mà mang con tàu để đi biển trở lại là không thể nào thực hiện được. Họ quyết định bỏ con tàu và lên bờ ở đảo Tri Tôn. Công việc này cũng đòi hỏi một sự mau chóng thực thi, khi phải kể đến số người đáng kể phải di chuyển xuống tàu, con số rất it các tàu ca nô và xà lúp và sự nhỏ bé của chúng. Vị thế kỳ lạ của con tàu đắm, nó bị vướng ở mủi tàu, trong khi đó ở phía sau thì khi đo dò cho thấy là ở sâu độ bảy mươi sải nước: bất cứ thời gian nào nó cũng có nguy cơ bì chìm đắm hầu như thẳng đứng từ đuôi tàu.

Cũng vậy cần phải chỉ để cho mổi người đắm tàu mang xuống khi rời khỏi tàu những đồ ăn thực phẩm để tồn tại trong một thời gian trên đảo. Tất cả những đồ khác ngoài con người trên những tàu ca-nô, xà lúp có khả năng được tận dụng cho sự sống còn. Bởi vì chúng có thời gian để đủ đi qua lại từ đảo Tri Tôn đến tàu Europe để mà không có người nào còn trên tàu khi tàu chìm biến mất thình lình ?, Và làm sao đạt lấy được sự hi sinh từ tất cả cá  tính ích kỷ giữa những người lính ngoại quốc và các thủy thủ này trong thời giàn dài, và kỷ luật khắc khe của các tàu hải quân hoàng gia không có trội át, thống tri, ? Và cuối cùng làm sao làm cho mỗi người từ bỏ chỉ lo cho cá nhân tài sản của riêng mình, sao cho có những vật tuyệt đối cần thiết cho mọi người, ích lợi cho sự giải thoát

Thuyền trưởng Brunet và những người chỉ huy cấp cao Tây Ban Nha đã tự đưa ra vấn đề hy sinh quên mình này, cương quyết thực hành bằng cách làm gương cao thượng: trước mặt tất cả mọi người, họ đã quăng ra biển tất cả tiền bạc mà họ đã tích lủy trong nhiều năm, từ sự tằn tiện hy sinh trong những ngày ở Đàng Trong, một vài sĩ quan cấp dưới cũng bắt chước họ…

Điều này sẽ ngăn chặn, như là cú đánh lại, sự mang vào trong cộng đồng những người không may mắn lòng tham bỉ ổi có tác dụng hủy hoại.

Ngay lúc ấy, sự cứu vãn các đồ đạc từ tàu bị đắm bắt đầu, trong những điều kiện khắc kỷ mà hội đồng ban định; sự cứu vãn kéo dài suốt cả ngày. Đến chiều tối, tất cả thủy thủ đoàn và hành khách đã lên trên bờ với lực lượng hùng hậu, và thực phẩm đủ để trải qua một tháng ăn tằn tiện mà không phải tất cả bị chết đói, và có vài chút vải buồm để làm lều che chở đỡ cho tất cả đám người bé nhỏ này

Khi các lều được dựng lên trên bãi cát, vào lúc mặt trời lặn, những người bị đắm tàu đi nghĩ mệt, lúc đó là lúc cho phép họ suy nghĩ về tình trạng của họ hơn là phê bình chỉ trích và về những phương diện chi tiết đe dọa họ

Tàu Europe, mắc cạn cách đảo Tri Tôn hai trăm năm chục mét, nó chỉ cho thấy phần trước của tàu lúc này hầu như là khô cạn trên đá san hô, đá san hô đã phá hoàn toàn đáy tàu, trong khi đó, theo dự kiến của thuyền trưởng Brunet thì khoang thượng của đuôi tàu bị hoàn toàn biến mất: tàu chuyên chở ở vị thế đứng nghiêng gần như là thẳng đứng từ đáy đến 80 mét: không những là tàu mất không thể sửa chũa được, mà người ta còn không thể nghĩ ra điều gì có thể kéo ra được .

Quần đảo Hoàng Sa được mọi nhà hàng hải cẩn thận tránh, chính là vì không muốn có nguy cơ bị đắm tàu; vì vậy mà người ta biết là sẽ không chờ có được một tàu nào sẽ đi qua để giải thoát mình

 Đất liền gần nhất là vịnh Xuân Day (Xuân Đài) ở Đàng Trong, cách đảo Tri Tôn 150 dặm, nơi của quân thù, vã lại những thuyền con mỏng manh của tàu Europe có dám thử, không có dụng cụ thủy văn, hành trình điên rồ này không. ?

Sự tạm cư trên bờ cát cho họ nhiều cái ghê sợ khác: thực phẩm chỉ đủ gần một tháng, không có nước ngoọt à chung quanh một địa thế hầu như chuyển động, hầu như phẳng lì, có chiều dài khoảng 1800 mét và 1200 mét chiều ngang, đại dương vô tận, gầm gừ và sủi bọt, đại dương dầu vậy yên lặng so với giờ này, và nếu giông bảo làm nổi lên cơn giận giữ của nó, thì nó chắc hẳn sẽ nuốt hết bải đất khốn khổ này trong một vài núi nước dựng lên thật cao lớn, bỏ đi với sự khinh thường của nó; đại dương, chỉ bị chọc gheo bởi các cơn gió lốc, có thể quét sạch bằng các sóng điên rồ của nó, nếu không thì những người tị nạn trên đảo này, ít nhất  những nguồn tài nguyên bấp bênh có được cung cấp cho cuộc sống buồn thảm của họ  !

Những nạn nhân của tàu Méduse, trên bè trôi nổi của họ, bị mang đi tạm thời bởi các sóng giận dữ; còn những người của tàu Europe, đứng một chổ trên thuyền đắm bất dộng của họ, chỉ có chờ từ các sóng một vải liệm to lớn !

Nếu những suy nghĩ độc hại này chỉ làm rối trong tâm trí những người lính Phi và một phần thủy thủ đoàn, ho đã ngủ kiết sức vì mệt mỏi và do đầy cảm xúc vào lúc mười giờ tối, thì chúng lại hiện rất rõ trong đầu của ông Bunet và ông Antonio Valverde, bởi vì họ bước từng bước dài suốt đêm trên bờ cát, xem xét độ cao của mực nước biển và hăng say tìm kiếm phương tiện giải cứu.

Tàu Europe khi khởi hành đi Manille đã có kéo theo tàu “fallouah”, tên là Soledad, đây là loại pháo hạm Tây Ban Nha nhỏ, chở 12 người chèo thuyền và một đại bác, đã tham gia trong tất cả cuộc chiến trên sông ở Đà Nẳng trong nhiều cuộc viễn chinh khác nhau đánh người An Nam. Loai tàu này được dùng bởi các công dụng đa năng của nó, giờ nó đang ngay cạnh đây; nó hơn hẳn về uy thế, mặc dầu eo hẹp, các tàu ca nô và xà-lúp của tàu Europe mang theo; nếu không có tình trạng thực sự xấu của nó, trong tất cả các tàu nó cung cấp một vài bảo đảm mong manh để đi đường trường  vượt biển: chính chiếc thuyền này mà viên thuyền trưởng già và viên đại tá gan dạ đặt hy vọng nhất thời !

Dầu vậy, thử gởi chiếc Soledad về Đà Nẳng là không thể được: một thuyền mỏng manh như võ đậu phọng như vậy mà chạy ngược lại gió mùa ! Cũng vậy thành phố Manille thì quá xa cho một tàu quá mỏng manh như vậy. Hai vị chỉ huy cao nhất nghĩ đến Saigon, ở vị trí hai trăm dặm theo hướng gió.

Vào buổi sáng, họ tham khảo với các sĩ quan để biết ai là người bỏ mình tình nguyện dẫn tàu đi cầu cứu: người chỉ huy trung úy hải quân Tây Ban Nha Ariquistan hào hiệp đứng ra; nhưng phải mất nhiều ngày để làm chiếc tàu không bong dài hơn mười lăm mét này có thể đương dầu trên biển thô thiển bởi gió dữ dôi luôn có từ hướng đông bắc

Bộ tham mưu ngay sau đó thông báo kế hoạch giải cứu đến 1100 lính Phi và thủy thủ đoàn tàu l’Europe.Đám đông nhiệt liệt tán thành nhất trí sự biết ơn sâu rộng đến người lính hải quân cao thượng này chịu bỏ mình ra như đặt cuộc số phận với sự may rủi để cứu tất cả khỏi cái chết. Người này thì chào anh ta bằng những tiếng hoan hô, người khác nhờ các thánh phù hộ cho anh ta ! Và mỗi người đều muốn góp sức vào sự tu sửa tàu Soledad; những người thợ mộc thì làm cột buồm cho chắc lại; những người thợ buồm cắt những buồm phụ bằng cách làm nhỏ lại vải lều; những người thợ trám thuyền làm mới lại giây sợ đường viền của tàu; những người lính bao phủ tàu bằng các phép lành. Ngày hôm đó họ không ngưng nghĩ làm việc cho đến khi họ cảm thấy đói.

Thuyền trưởng Brunet đặt lính canh gác để bảo vệ không cho ăn lén lút đống bánh bít qui lấy từ tàu bị chìm; một phần tư miếng bánh qui cứng, tức là khoảng 50 grams, được dịnh trước là khẩu phần hàng ngày cho mỗi người; ông Brunet và ông Valverde là những người cuối cùng được chia, dựa trên căn bản bình đẳng với các thuộc hạ của họ. Còn về nước uống, trở nên vấn đề nóng bỏng, bị kích thích sôi động hơn bởi chính sự trong vắt của nước biển, và để xoa diệu nổi khát, bầu trời ác độc không có những giọt nước mưa.mà người ta hy vọng từ nó; những người bị tra tấn khát quá uống nước mặn lờ lợ bằng cách cào những lổ trong cát: hai người lính Phi lạm dụng loại nước nguy hiểm này đã chết.

Ngày hôm sau, sóng mang vào bờ xác chết của hai con ngựa lúc trước là của đại tá Valverde và được để lại trên tàu Europe: hai con ngựa này được mang đến để cạnh đống bánh bít qui, cái này thêm vào đồ dự trữ thức ăn được coi như là của trời cho, mà thường thì trong các trường hợp khác là ghê tởm bỏ đi, có chúng thì khẩu phần thức ăn cho mỗi người được tăng gấp đôi.

Những người không được dùng trong công việc tân trang tàu fallouah thì lên những ca nô hay xà lúp để thám hiểm 200 đến 250 mét nước gồm giữa bờ đảo đến phạm vi đá ngần xung quanh đảo, nước trong suốt không đâu bằng; họ câu bắt ở đó được rất nhiều sò, được gọi dưới tên thông tục là bénétier, thịt của các con sò này gia tăng khẩu phần ít ỏi của những người đắm tàu.

Ngày hôm sau, những người đi câu tìm được không xa bờ hai con cá mập nhỏ mắc cạn, họ đã không cho hai con cá này có thời gian thong thả lớn lên. Một con rùa lớn cũng trả giá, bằng một cái chết nhanh chóng, vì khinh suất cho họ thấy. Một số lượng lơn chim biển, chim hải âu (mouette), chìm mòng biển (goéland), chim cánh cụt (pingouin) đền chuộc một sự yên nghỉ cần thiết trên bờ cát với máu của chúng, làm tươi tỉnh chút ít những lính Phi và các thủy thủ. Một sự trù phú tương đối, nhưng than ôi bấp bênh, ngự trị trên đảo Tri Tôn.

Bảy mươi hai giờ sau khi xâm chiếm đảo bởi một ngàn mốt người cư dân tạm thời, tàu Soledad sẳn sang chuẩn bị lên đường. Mười hai người tình nguyện, theo gương của trung úy Ariquistan lên tàu với một la bàn là dụng cụ hàng hải duy nhất có thể cho họ biết đường đi và một con dao là dụng cụ phòng thủ duy nhất chống sự tấn công của hải tặc, rất đông trên đường băng đi biển trong vùng. Hơn nữa nếu tàu không bị chìm giữa biển, nó có khả năng là bị đẩy đưa theo gió mùa đến bờ biển Đàng Trong, nơi những người An Nam cư ngụ đang bực tức phẩn nộ chống lại người Âu, hơn là khả năng cặp được bến ở Saigon

Những người đi và những người ở lại đều biết tất cả điều này !

 

IV

Tàu Soledad khởi hành đi là giây phút trọng đại và đầy xúc cảm. Trên chiếc thuyền con, thuyền trưởng Brunet và viên trung úy Ariquistan, người sắp sửa phải đối diện với các bãi đá ngầm và gió lốc nước xoáy của biển kinh quái, hai người ôm chặt nhau trong hai tay rất lâu và họ không thể cầm được nuớc mắt. Trong những lúc như vậy, trái tim của những người năng lực nhất không chống lại sự vận hành của cảm xúc: đó là sự khác biệt giữa nhân tính quả cảm và tính khí của các con sư tử trong sa mạc

Mười hai người chèo thuyền vào chổ ở hai bờ thuyền, cờ hiệu được kéo lên, buồm giăng ra, tín hiệu ra đi, và tàu rời xa giữa sự im lặng oai nghiêm hơn những cuộc tiển đưa ồn ào nhất. Tàu may mắn băng qua được hàng rào cản san hô, nó từ từ nhỏ dần, và trở thành một điểm trắng ở hướng tây của chân trời… và những người bị đắm tàu vẫn còn đứng đó, giống như bị hóa đá, gắn liền trên bờ, những con mắt theo dõi tàu nhỏ bé hầu như không còn nhận thấy mang theo số phận của cả ngàn người.

Tình thế trở nên thật sự rất là hãi sợ trên đảo Tri Tôn. Những khẩu phần bánh bít qui giảm đến mức tầm thường nhất, không đủ hết một tháng – và những xác xuất thuận tiện tốt nhất trong tất cả các trường hợp thì cũng đã hơn quá thời gian muốn đi tìm và dẫn sự cứu giúp đến. Với cái gì để ngăn chặn sự cùng quẫn từng giờ đang tiến về các nạn nhân của nó

Người ta chỉ trông cậy vào sự may rủi của câu cá, săn chim và lượm sò ốc mà người ta thấy chúng khi đi dạo chậm rãi, hay khi chúng hé mở hai võ sò khổng lồ của chúng ở dưới đáy biển trong vắt đầy ác hiểm này.

Nước ngọt lúc nào cũng thiếu, và đảo không có loại thảo vật nào, phản chiếu trên cát sức nóng mặt trời, làm tăng gấp đôi sự khát nước của những người khốn khổ này !

Ông Ariquistan đã hứa sẽ trở lại, – nếu ông ta đến nơi ! – với một tàu ưu tiên gởi gấp đến cứu những người đắm tàu; nhưng vừa sau khi người ta mất nó khỏi tầm mắt, ông Ariquistan và con tàu của ông, thì những bận tâm khẩn thiết hơn những gì đã phát họa ở trên đánh ập vào những người còn lại ở đảo Tri Tôn.

Thuyền trưởng Brunet, người rất am hiểu, như chúng tôi đã nói về ông, về những sự nguy hiểm ở vị trí các vĩ tuyến này, tính toán ra với sự sợ hãi càng tăng, không có thố lộ ra cho chính các sĩ quan của ông, nhiều khả năng xấu của mùa thời tiết lúc này. Vị trí ở vào điểm phân (équinoxe), giai đoạn có các thủy triều lớn và các gió lớn làm mà tất cả các nhà hàng hải đều sợ hãi. Những trường hợp này không chỉ cho những nổi sợ hãi khủng khiếp đến một ngàn một trăm người đang tị nạn trên bờ cát này, mà một cơn bảo tố có thể đưa đến cái chết không nguôi bằng một vực xoáy nược; những điều này làm tăng lên sự không chắc chắn của chuyến đi tìm cứu nạn của thuyền Soledad; làm gia tăng gấp đôi khả năng nạn đói xảy ra, vì trong khi biển động giữa những đá ngầm thì sự câu bắt cá không còn các thủy thủ thực hiện được để giúp phần ăn cho những người lính

Mặc cho sự cẩn trọng kín đáo của thuyền trưởng và thái độ vững vàng của ông, sự nản lòng của những người lính Phi đi đến cực độ. Những người tội nghiệp này, những tiên tri của họ đã được xác nhận bởi nhiều diễn biến buồn thảm, đã hoàn toàn ù lì không còn làm gì để mặc cho số phận. Ngay sau khi thuyền Soledad sửa soạn ra đi, một số người trong họ nói là trục căng buồm hợp với cột buồm thành một thánh giá là một tiên đoán tang tóc !.

Đạo ki tô của họ, được giảm nhẹ đi từ chủ nghĩa định mệnh hồi giáo, trộn lẫn sự đờ đẫn với sự cam chịu. Nằm trên cát, họ trở nên vô dụng và ủ ê. Chỉ những thủ Pháp, và các sĩ quan Tây Ban Nha là bảo tồn năng lượng và hiện hữu tinh thần của họ; còn một vài người trong nhóm sau cùng này tự để họ rơi vào cơn tuyệt vọng. Và buổi tối hôm thuyền Soledad ra đi, ông Brunet nhận ra các dấu hiệu báo trước của một chuyện lớn sẽ xảy ra !

Bởi một ân huệ thật sự trời ban cho, chiếc thuyền mỏng manh đã thành công hoàn thành vượt qua hai trăm dặm khoảng cách giữa đảo Tri Tôn và Saigon: mười ba người trên thuyền, đã phó thác vào sự che chở của Thượng đế trên dòng chảy và vực thẳm ghê gớm, đã vào đến cảng Saigon ! Chúng ta không cần phải nói sự đón tiếp đầy thương tình mà chính quyền Pháp, quân sự và hàng hải đã làm đối với họ

Trong lúc này họ đến vào một thời điểm khá xấu. Ông Aries, chỉ huy ở Saigon đang có nhiều chuyện lớn trong tay phải giải quyết. Đây là một trong những lúc mà người An Nam nổ lực gấp đôi kịch liệt chống lại những người mà họ gọi là người Âu mọi rợ. Họ cực lực làm việc ngàv và đêm trên phòng tuyến Qui-Hoa (**) và càng lúc càng đe dọa vị trí của chúng ta, mà các người phòng thủ với số quân rất nhỏ nhoi, so với hàng loạt biển người này.

Mỗi giờ đều có các đám cháy đốt lên, các sự bắt cóc, ám sát. Người Pháp chỉ tách ra nhau khi đông người theo các hàng, nếu họ đi ra ngoài biệt lập, họ sẽ không bao giờ trở lại trại

Gởi nhiều tàu đi hai trăm dặm tìm kiếm nạn nhân đắm tàu có thể kéo dài rất lâu – diễn tiến sau này chứng minh như vậy – sẽ làm yếu đi lực lượng chiếm đóng hiện đã quá ít ỏi rồi

Nhưng tình cảm nhân đạo, một hình ảnh thống thiết xót xa về tình cảnh mà viên trung úy Tây Ban Nha đã tả về những người đắm tàu Europe, đã ảnh hưởng đến những xem xét quyết định chính trị này của cấp chỉ huy. Ông Ariès chỉ nghĩ đến gởi đi thật nhanh và hiệu quả cứu những người không may mắn ở đảo Tri Tôn.

Chết thật ! vào lúc đó ở Saigon, không có một chiếc tàu nào có thể đi ra biển ngay được.

May mắn thay, hai giờ sau, tàu hộ tống Norzagaray, một tàu hơi nước nhỏ thuộc hải quân hoàng gia, 54 mét chiều dài và với lực đẩy 80 ngựa trở về bất ngờ sau cuộc thám hiểm trên sông Đồng Nai, gần quận Phú-Yên-Một thuộc Pháp, khu vực này có nhiều hải tặc An Nam, mà tàu đã đánh đuổi kịch liệt.

Người ta không để tàu Norzagaray nghĩ một chút nào: ngay tại bến, ông Arisquistan lên tàu và ngay lập tức khởi hành đi quần đảo Hoàng Sa, dưới lệnh chỉ huy của thuyền trưởng, trung úy hải quân Lespès.

Cùng một thời gian ba chiếc tàu khác: tàu Marne, Saôn và Tien Shang cũng tích cực chuẩn bị đê đi tìm một ngàn một trăm nạn nhân ở đảo Tri Tôn.

Vừa khi tàu Norzagary rời khỏi sông Saigon và đi quá mủi Vũng Tàu thì người ta không còn hy vọng chinh phục được gió mùa, gió mới mát thổi tăng lên và đẩy lùi tàu hơi nước làm vận tốc tàu xuống chỉ còn có nữa dặm một giờ… Và mỗi phút chậm trễ có thể trả giá sinh mạng một người trong số những người đắm tàu Europe. Suy nghĩ này đã động viên lòng can đảm của thủy thủ đoàn làm họ đạt được các hoạt động thần kỳ. Qua sức mạnh sáng kiến, họ đã tăng thêm một chút vượt hơn nhược điểm của các máy móc. Từ thuyền trưởng Lespès đầy năng lực cho đến các thủy thủ còn trẻ tuổi, tất cả cứ mỗi nữa tiếng đều nhìn vào máy đo tốc độ với một cái nhìn bồn chồn lo lắng, bởi vì, với tất cả sự tận tâm, máy đo không chỉ quá một dặm, trong hai ngày dài và hai đêm bất tận. Cuối cùng mủi Phan Rang được vượt qua, bảo đảm con tàu có gió ngược lại gió mùa, sự cứu cấp càng ít đi vấn đề khó khăn. Khi đến điểm báo hiệu gần đến quần đảo Hoàng Sa, tất cả các ống nhòm xa hướng về đằng xa và tìm kiếm các vết tích của tàu đắm. Mặc cho các tính toán của các sĩ quan, chứng minh là họ gần đảo Tri Tôn, người ta không thấy gì hết. Trong ba mươi sáu tiếng đồng hồ, người ta đi ngoắt nghoéo trong khoảng giới hạn, chia thời gian ra giữa sự cẩn trọng không ngưng nghĩ để khắc phục dòng nước, để không bị đẩy qua phía bên kia – hay lên trên vài đá ngầm – và liên tục kiểm chứng đánh giá. Tất cả không tìm được gì hết.

Ông Ariquistan trong lúc bận tâm và đau buồn khi rời đảo, không nghi ngời gì nữa chắc là đã lầm lẫn khi quan sát vị trí của nơi thảm họa đắm tàu.

Và dòng nước thì cứ thay đổi cứ từ mỗi ba mươi phút đến ba mươi phút !

Cuối cùng vào lúc 11 giờ sáng, Người thủy thủ canh trên chòi gác báo tin: một chút khói và một cột buồm !.

Một sĩ quan phóng lên đỉnh của buồm mũi và nhận ra ngay lập tức một bờ cát. Nó rất thấp, rấtt nhỏ và rất khó nhận ra, so sánh với sự bao la của biển cả, mà tàu Norzagaray đã đi vòng quanh nó trong một ngày rưỡi mà không thấy gì.

Trên tàu là một nổi vui mừng không biên giới: người ta ôm nhau như thể là mỗi người đều có một người anh hay em trong số những người đắm tàu, và tất cả các túi tiền được mở ra để thưởng cho người thủy thủ, người đầu tiên đã thấy được đảo.

***

Chuyện gì đã xảy ra ở đảo Tri Tôn trong khoảng thời gian từ  khi ông Ariquistan đi và trở lại, trong 14 ngày nguy hiểm chết người này ?

Thuyền trưởng Brunet chỉ sợ, với nhiều lý do, thời tiết ở điểm thu phân (équinoxe) và các bảo tố không tránh được trong khoảng thời gian này. Ngày hôm sau, sau khi tàu Soledad ra đi, những trận gió lốc dữ tợn chất đống các ngọn sóng lớn đập vào các bãi đá ngầm san hô, tạo thành chung quanh đảo như bờ của miệng núi lửa đầy bọt sóng. Kế đó một cơn gió mạnh gia tăng sự bạo động, bầu trời đen màu nhọ nồi và đồng thau, biển dâng cao, các sóng biển kinh hoàng xâm lấn một phần bờ cát và đuổi những người đắm tàu phải chạy đi lên những điểm cao, nơi đó họ trú ẩn đầy sợ hãi và lạnh cóng run

Cơn bảo kéo dài luôn hai ngày liền. Những tiếng rít gào thét sấm sét làm hoảng sợ cả những người lính Phi và các khối nước biển, chúng có vẽ như muốn hít vào các tiếng gầm sấm sét này vào những sóng cuồn cuộn đổ xuống của chúng. Một vài người trong đoàn lính Phi, mặc dầu các sĩ quan Tây Ban Nha và thủy thủ Pháp bao quanh quan sát thăm chừng che chở họ, đã trở lại tin tưởng sau sự công phá đầu tiên của sự đảo lộn cuộc đời khi bị đắm tàu này, là giờ cuối cùng của họ đã đến, đã ngu đần tự để trôi mình vào vực thẳm nước sôi sục.

Thuyền trưởng Brunet vẫn giử một dáng vẽ khắc kỷ và bình thản bề ngoài, và dầu vậy ông nghĩ tới mực nước biển, có thể vẫn còn tiếp tục dâng lên, và nghĩ đến thuyền nhỏ đi tìm cứu cấp, có thể đã bị chìm mất ở giữa trận cuồng phong, trận cuồng phong này đôi lúc nâng xác thuyền Europe đang nằm chìm ngay bên kia gần đảo, và xé nhổ các cột buồm tàu Europe dễ dàng như ngọn gió nhẹ thổi làm rớt là đã chết trên cành cây !

Trong khi những ý tưởng xót xa này đang vây tủa ông, các ý tưởng đã được chia sẽ nhưng che dấu không được tốt bởi những người tinh hoa trong đám một ngàn một trăm đồng đội khốn khổ, thì song vỗ liệng dưới chân ông một vài võ tôn lòng tàu.. sóng sau đó mang thêm vào bờ một thùng… kế đó hai, ba, bốn thùng !.. Không lâu sau là những kiện hàng đủ loại nằm rãi rác trên bờ bãi biển, mà sóng đã vô tâm dững dưng bỏ lại. Tất cả các đồ này thoát ra từ sườn của tàu Europe, bị phá mở ra bởi cơn bảo,và cái công cụ ghê gớm này của sự giận dữ thần thánh, vâng lệnh lần này long tốt của Thượng đế, rất khó hiểu trong các lệnh của ngài, đã thảy đến sự dồi dào phong phú đến những người đắm tàu khốn khổ !

Bột, bánh bít qui, rượu nho tất cả được thu lượm lại. Ông Brunet nghĩ đến lấy nước ngọt bằng cách đi đến tàu Europe, lúc này được nâng lên và nằm trên đá ngầm ở biển đã yên lặng qua tầm mắt nhìn. Những xuồng kéo lên trước đây lên trên cát được dùng để dẫn ông đến tận tàu Europe với các thủy thủ giỏi nhất. Ông viếng thăm nó từng bộ phận và sự khảo sát này bắt đầu cho ông một hy vọng là sẽ mang được từ trên tàu một bếp chưng cất nước ngọt lên trên đảo: nước ngọt và bánh mì tươi mới ra lò sẽ được bảo đảm là có cho mọi người.

Khi trở về đảo Tri Tôn, ông thông báo cho tất cả mọi người dự án mà ông nghĩ ra. Sau ngày mai, người ta sẽ làm việc thực hiện đề án. Họ thiết lập trên mặt đất một bè dùng các vật trôi dạt từ tàu Europe; những xuồng và xà lúp kéo nó đến cạnh tàu Europe, nơi mà các cần trục được dựng lên. Thủy thủ đoàn, được khuyến khích bởi thuyền trưởng, và hồi phục do có thức ăn phong phú, đã phô bày sức lực và sự nồng nhiệt vượt bực. Sự thành công đã đạt được hoàn toàn: bếp chưng nước ngọt, nặng 15 tấn, được dỡ từ tàu mang xuống bè nổi không bị hề hấn gì. May mắn thay, bếp chưng tới được bờ cát không bị sao cả. Những mảnh bể của tàu Europe được dùng làm củi đốt. Với ý chí, bếp chưng sẽ biến nước biển thành nước ngọt và một trong bốn lò của nó được dùng để nướng bánh mì mới mỗi ngày.

Những buồm vải, lấy từ tàu Europe, dùng để làm lều trú ngụ trên các điểm cao nhân tạo để tránh được càng tốt sóng biển đánh đến, trong trường hợp thủy triều dâng cao hay có bảo tố. Các kho chứa đồ ăn được phủ bằng vải, mà các lính canh chọn lọc canh giữ cẩn thận, bởi vì người ta sợ có sự say rượu gây rối trật tự – những người lính Phi, ra khỏi sự lờ đờ của họ, trong những lúc đầu tiên, đã lấy ở đó rượu, trước khi mà người ta có thể lấy lại từ họ các thứ kích thích bệnh hoạn này, các sự chớm mở của vô kỷ luật. May mắn thay, những sĩ quan Tây Ban Nha và thuyền trưởng Brunet đã còn giử các khẩu súng lục của họ, mặc dầu miệng súng câm lặng, nhưng đủ để tái lập lại kỷ luật đến các người phản loạn.

Sự sung túc vì thế bao trùm khắp đảo Tri Tôn. Sự việc lạ xảy ra, do có đầy đủ thức ăn và uống, sự ngơi nghĩ không những không còn làm những người lính trở nên bi thảm mà cả những sĩ quan cấp dưới, trước đó bỏ mặc cho trí tưởng tượng của họ được hứng khởi cuồng nhiệt và sầu não, khi không còn nghe nói nữa về tàu đã đi tìm cứu, thì họ tự coi mình như sớm hay muộn rồi cũng sẽ bị chết khổ sở trên đảo nên định bắn vào đầu tự tử. Người ta đã tước võ khí của họ để ngăn ngừa cơn điên như vậy sẽ trở lại, và cấp trên của họ đã canh giữ những người lính Phi, mà các gương xấu này làm họ có khuynh hướng  muốn cướp bóc lương thực, bằng sự đe dọa thường tình của các khẩu súng cầm tay của họ

Trong lúc này tàu Soledad đã ra đi mười ba ngày rồi và không có một tin tức gì ! Một thủy thủ,leo bám trên cột buồm được đặt ở một điểm cao trên đảo Tri Tôn, quan sát thường xuyên chân trời. Ngày thứ 14 khi ông Brunet và đại tá Valverde đang chuyện trò, với trái tim thắt lại,vì nghĩ là trung úy Ariquistan và các người đồng hành gan dạ của ông chắc đã bị đắm tàu mất tích không tìm được đâu, thì người thủy thủ canh gác ứng biến tạm thời này cho biết là có khói của một tàu hơi nước ở đằng xa.

Niềm sung sướng hoan hĩ của một ngàn một trăm người đắm tàu ngay lập lức trở như điên loạn. Nhiều người, mặc dầu tàu Norzagaray tiến đến và hiện rõ, không tin vào mắt mình. Những người khác thì leo lên vai của các bạn mình để có thể thấy rõ hơn, hay có người bơi ra để đến tàu và phải mệt nhọc bơi quay lại đảo. Hình như tất cả mọi người đều thốt ra những tiếng la hé to lớn, vẫy khăn mu soa (mouchoir) của mình, và giữa những người lính Phi, những lời kinh cầu nguyện được tuôn  ra với sự liến thoáng hoảng loạn cuồng nhiệt. Sau đó có một lúc lo âu thật khủng khiếp; tàu dừng lại: –  điều không thể có được là tàu không nhận thấy đảo Tri Tôn !

Lúc đó là các tiếng la hét to lớn vô hạn vang ầm lên.

Nhưng ngay sau đó, một chiếc ca nô xuất hiện bên kia hàng rào đá ngầm và vượt băng qua chúng, và đáp xuống bờ cát. Ông Ariquistan bước xuống ca nô cùng với thuyền trưởng, ông Ernest Dumont, và các lính hải quân Pháp. Họ được khiêng lên nghênh đón, theo đúng nghĩa như vậy, như các vị anh hùng chiến thắng, bị nghẹt thở vì các ôm tay hôn của mọi người, liên tục bị dồn dập tới tấp của các biểu lộ tình cảm.

Vị chỉ huy của những người mới đến rất khó nhọc để làm cho mọi người nhận ra mình, những người đắm tàu này lăn xăn đầy sinh khí phấn khởi vì được giải thoát; ông ra lệnh ngày lập tức mọi người lên các thuyền xà lúp của tàu chuyên chở: chính tàu Norzagaray có thể bị đắm bởi hệ quả của các luồng nước, nếu gió trở nên mạnh mẻ. Ông giám sát sự vận chuyển bốn hay năm lần mọi người từ đảo Tri Tôn đến tàu hơi nước, và sau ba tiếng đồng hồ đã nhận hay nói đúng hơn chồng chất một ngàn một trăm hành khách của mình.

Cuộc cứu nạn to lớn, nhanh chóng và khó khăn này không được hoàn thành mà không có tai nạn, nhưng không có hệ quả bi thảm tan tóc nào, là nhờ vào sự gan dạ bình tỉnh của thuyền trưởng. Ba lần, khi băng qua vòng đai san hô, tàu ca nô mà ông Ernest Dumont có trên đó bị ngập hoàn toàn với đầy các lính Phi, và cả ba lần người sĩ quan này không những thoát được sự hiểm nguy mà còn cứu sống từ các dòng xoáy nước hiểm nghèo này tất cả các lính Phi trên ca nô của mình ! Tương tự như vậy, một thủy thủ tàu Norzagaray cũng đã kéo một trung sĩ Tây Ban Nha ra khỏi các ngọn sóng khi ông này sắp chết đuối.

Thuyền trưởng tàu Europe là người cuối cùng rời khỏi đảo Tri Tôn, vui mừng là sự đắm tàu của ông, có thể có những hệ quả lớn lao ghê gớm và hãi hùng, mà thực tế kết cục lại có rất ít nạn nhân: ông tự lượng, không nghi ngờ gì nữa, về sự lớn lao của tính kiên trì anh dũng của mình.

VI

Đấy, hơn một ngàn một tram người trên một chiếc thuyền hộ tống, trong những trường hợp bình thường chỉ chở một tram người. Nhưng những người lính Phi, lần nữa bị bất động bởi những nỗi sợ hãi mê tín của họ, may mắn thay chịu để dồn lại trên tàu mà không có lời thầm thì than phiền nào. Họ được dồn chồng lên nhau, đúng nghĩa của từ ngữ, theo từng nhóm ở tất cả góc cạnh trên tàu, họ buồn tẻ, thụ động với thái độ của những người không chờ gì hết ngoài số mệnh. Không cử động, không thốt ra lời than phiền nào, những lời cầu nguyện của họ là những lời nói duy nhất mà họ thì thầm rất nhỏ.

Tàu Norzagaray để lại ở bờ cát một cờ đỏ treo trên cột buồm, đây là dấu hiệu thỏa thuận giữa tàu này, và tàu Marne, Saône và Tien-Shang để cho biết rằng những người đắm tàu và thủy thủ đoàn tàu Europe đã được cứu, và để tránh những cuộc tìm kiếm vô ích nguy hiểm những người sống sót, sau khi đã hoàn thành công tác cứu nạn.

Sau đó, vào lúc 5 giờ chiều, tàu lên đường đến vịnh Xuân-Day (***), điểm ở lục địa gần nhất với phía tây của quần đảo Hoàng Sa, và được chọn làm địa điểm tập trung của các tàu tìm kiếm cứu nạn.

Tàu may mắn theo lộ trình dài một trăm năm mươi dặm, đã đến đầu tiên ở điểm hẹn, và trong 7 ngày, ở đó chờ đợi ba chiếc tàu khác, không phải là không chịu đựng rất nhiều phiền phức bất tiện khổ nhọc do lưu lại ở đó quá lâu và có quá đông người trên tàu như vậy

Vịnh Xuân Đài là một trong những vịnh tuyệt vời dọc trên bờ biển Đàng Trong, tuyệt vời cả khi thả neo ở chổ đậu tàu cũng như vẽ đẹp của những bờ vịnh. Nhưng những bờ biển đẹp như tranh này, những cánh đồng được trồng trọt rất đáng phục làm gợi nhớ đến cảnh đồng quê ở Pháp, rãi rác trong đó là rất nhiều làng to lớn mà vô số những dân cư ở đó nuôi một hận thù không khôn nguôi chống lại những người mọi rợ (****). Những dân chài ở dọc bờ vịnh rất lấy làm lo âu khi thấy một tàu người Pháp đến với rất nhiều người trên tàu.như vậy; họ nghĩ đây là cuộc viễn chinh gởi từ Saigon đến chống họ ở đây và thay vì mang lại lương thực, họ đã báo động đến những vùng lân cận

Thái độ thù địch của họ trở nên hiển nhiên, thuyền trưởng tàu Norzagaray, thấy lương thực của tàu giờ bị giảm mà không thể không tiếp tế, ông nghĩ là không còn phải chờ được nữa các tàu khác to lớn hơn tàu mình mà cho đến giờ đã trễ quá lâu chưa đến và vì thế tàu Norzagaray phải tiếp tục cuộc hành trình đi đến cảng mà tàu đã khởi hành (Saigon). Vì thế đến ngày thứ bảy ở vịnh Xuân Đài, ông ra lệnh đốt lửa cho máy hơi nước sửa soạn lên đường, tàu hơi nước đã huýt còi thì ngay lúc ấy tàu Tien-Shang đến. Bị lầm bởi các dấu hiệu quá vội vã không xem xét kỷ lưởng, cũng như tàu Saône, và cũng như tàu Marne, tất cả đều không thấy đảo Tri Tôn !

Được an tâm bởi sự hiện diện của tàu Tien-Shang, người ta gởi một lực lượng, với súng và đạn dược, để đi săn chim,  nhất là các con chim cu gáy, có rất nhiều không thể đếm được ở trên bờ, và họ đã thành công tăng được khẩu phần thực phẩm. Kế đó, trong khi tàu Tien-Shang thả neo đậu, người ta chuyển các lính Phi vào trong khoang tàu rộng rãi của nó, và thuyền trưởng Lespès vội vã tiếp tục khởi hành đi Saigon với chiếc tàu Norzagaray, để trấn an viên toàn quyền ở Saigon về số phận của những người đắm tàu và những người trên các tàu đi cứu.

 

 

Ngày hôm sau, tàu Tien-Shang, trước khi sửa soạn khởi hành, đã thử gởi một xuồng đi tìm thực phẩm tươi; nhưng chính điều này sự nguy hiểm đã nổ ra. Những người An Nam, tụ tập lại từ khắp các nơi, dùng một trong những chiến thuật mà họ rất xuất sắc, chặn đánh lính hải quân của chúng ta, và tìm cách tiêu diệt lính Pháp với số lượng đông người và nhiều võ khí. Những người lính hải quân Pháp vừa phải tự vệ và vừa rút lui về xà lúp, may mắn thay họ không mất người nào mà chỉ có một người bị một giáo đâm làm thương tích. Cùng lúc đó, một công sự che khuất sau các lùm cây rậm rạp ở sườn đồi bắn các đạn đại bác vào lính Pháp làm sự rút lui của họ được nhanh hơn.

Ta cũng đoán biết được sự lo âu vô tận trên tàu Tien-Shang khi họ nghe những tiếng súng nổ, và từ trên tàu thấy được từ xa cuộc chạm trán đẩm máu này.

Ngày hôm sau, đến phiên tàu Marne, tàu lớn chuyên chở hải quân, đến vịnh Xuân Đài, nhận chắc hẳn lần cuối các lính và sĩ quan Tây ban Nha để chở họ về thành phố Manille, nơi mà người ta chờ đợi với sự lo âu tuyệt vọng tàu Europe sẽ cặp bến, mà người ta đã biết tàu này đã rời Đà Nẵng gần 6 tuần rồi, thông thường chỉ bảy hay tám ngày là đến..

Sự cặp bến và xuống tàu ở Manille của lính Phi và các sĩ quan của họ, đã làm bùng lên sự biểu lộ ầm ỉ công nhiên cũng giống như sự trễ nãi đã làm lo âu cực độ trước đó. Trung úy Ariquistan hôm đó trở thành người anh hùng; thành phố Manille vội vã tặng cho ông một con tàu nhỏ bằng bạc và một thanh kiếm danh dự; và không lâu sau đó nữ hoàng Tây Ban Nha gởi ông Ariquistan một bằng thăng chức đại úy hải quân.

Những sĩ quan Pháp, đã đóng góp vào sự giải cứu một ngàn một trăm người đắm tàu, cũng không bị lãng quên trong sự nhớ ơn quốc gia từ nữ hoàng Isabelle II. Ông Lespès, thuyền trưởng tàu Norzagaray, linh hồn của sự tìm kiếm giải thoát những người đắm tàu, được tặng thưởng huân chương Ordre de Charles III, và thiếu úy hải quân Ernest Dumont, được phong là trung úy từ đó, vừa nhận được huân chương Saint-Ferdinand hạng nhất, với tấm biển, một trọng vọng ưu đải thường chỉ dành cho cấp cao. Một nghĩa vụ thực hiện ngoài tầm mức bình thường có quyền được thưởng đặc biệt ngoại lệ.

Người ta để lại trên đảo Tri Tôn, do tàu cứu vớt quá nhỏ không đủ chổ, hai mười ngàn lít rượu vang, năm ngàn lít rượu mạnh brandy, bếp chưng nước của tàu Europe, những đồ mặc bận, lều etc. Những đồ vật để lại này có thể có ích cho những người đắm tàu khác lúc đó, đóng góp giúp họ thoát khỏi chết chóc.

Nếu có thể, đối với những nước văn minh hiểu biết để thiết lập một kho chứa bánh bít qui, nước ngọt trên những bãi đá ngầm được biết là nguy hiểm nhất, người ta chắc chắn sẽ cứu được cũng như sự sống còn của rất nhiều nạn nhân trong những cơn giận dữ của đại dương.

Đây không phải là lần đầu tiên, từ khi có sự chiếm đóng của chúng ta ở các bờ biển An Nam, mà những người đắm tàu ở vùng biển Hoa nam này, vùng đáng sợ nhất trên thế giới, và xảy ra rất hung dữ độc địa thường xuyên đã cầu cứu người Pháp ở Đà Nẵng hay Saigon. Rất nhiều tàu Anh và Mỹ đã đắm, mất người và của ở các bãi san hô của bãi Thám hiểm (Investigator) hay quần đảo Hoàng Sa.

Đây không phải là đủ những lý do kinh khủng để thiết lập các cảng trú ẩn trên quần đảo khắc nghiệt này hay sao ?

(chú thích

(*) Tàu Méduse bị đắm năm 1816 ở bờ biển Tây Phi và một số các người sống sót lênh đênh trên một bè trong nhiều ngày, nhiều người chết đói, chết khác, bị quăng xuống biển và đói ăn thịt người để sống trước khi được cứu vớt. Đây là thảm kịch nổi tiếng trong lịch sử hàng hải Pháp và được họa sĩ Théodore Géricault thể hiện trong một bức tranh nổi tiếng Le radeau de la Méduse

(**) tức đồn Kì Hòa do Nguyễn Tri Phương chỉ huy chống quân Pháp)

(***) Vịnh Xuân Đài, ở cửa sông Cầu thuộc tỉnh Phú Yên ngày nay

(****) đây chỉ người Pháp, Tây phương

)

Một số những người lính Tagal đã thức tỉnh rời bỏ quân đội Pháp-Tây Ban Nha gia nhập nghĩa quân và nhiều người khác ở lại Việt Nam và lấy người bản xứ.

Nhà nhiếp ảnh André Salles, hội viên Hội Địa dư và Hàn lâm khoa học xã hội thuộc địa đã có đi nhiều nơi ở Đông Dương trong nhiều điền dã khảo cổ, đã có chụp ảnh chân dung vào năm 1896 một nhạc sĩ hoàng gia trong cung vua Cam Bốt là người sinh ra ở Saigon, lai Tagal-Việt Nam (cha Tagal sinh ở Manille, mẹ Việt).

tagal-pnompenh

Hình 3 – Nhạc sĩ hoàng gia Cam-Bốt ở Phnom Penh, 29 tuổi sinh ở Saigon, cha Tagal mẹ Việt (ảnh André Salles 1896, nguồn – Thư viện quốc gia Pháp)

Charles Lemire, người sống ở Nam Kỳ và Cam Bốt lâu năm, có viết trong sách xuất bản năm 1869, “Cochinchine française et royaume de Cambodge, avec l’itinéraire de Paris à Saïgon et à la capitale cambodgienne” là mặc dầu đa số lính Tagal trở về Manille vào ngày 1 tháng 4 năm 1863, nhưng ở Saigon có khoảng một trăm người Tagal định cư ở lại. Họ sống chung rất thuận hòa với người Việt, thú tiêu khiển của họ là đá gà. Họ thường mặt quần trắng và mặc áo sơ mi bỏ ra ngoài.

 

Tham khảo

(1) Le Monde illustré, 14/06/1862, 21/06/1862, 28/06/1862

(2) Le Monde illustré, 31/3/1860, Correspondance particulière du Monde Illustré, p. 214.

(3) Mac Vernoll, Expédition de Cochinchine, Affaire du 18 Novembre, Le Monde Illustré 21/1/1860, p.45.

(4) Charles Lemire, Cochinchine française et royaume de Cambodge, avec l’itinéraire de Paris à Saïgon et à la capitale cambodgienne, Challamel aîné (Paris), 1869.

Advertisements

About hiepblog

Nhà nghiên cứu khoa học

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s