//
you're reading...
Lịch sử, Văn học, Xã Hội

Bùi Hữu Nghĩa và Kim Thạch Kỳ Duyên

 

1.- Giới thiệu

Hát bội thường trình diễn các tuồng tích người Tàu như Phụng Nghi Đình, Tiết Đinh San chinh Tây, Tiết Nhơn Quí chinh đông, Ngũ Hổ Bình Tây, Xử án Bàng Quí Phi,.. nhưng có vài tuồng do người Việt sáng tác đã trở thành kinh điển như tuồng San Hậu, Kim Thạch Kỳ Duyên. Trong lịch sử hát bội ở Nam Kỳ thì tuồng “Kim Thạch Kỳ Duyên” của Bùi Hữu Nghĩa (1807-1872) có vị trí cột mốc trong sự phát triển tuồng hát bội.

Được soạn bằng chữ Nôm khi ông về hưu ở Bình Thủy vào những năm cuối đời, tuồng “Kim Thạch Kỳ Duyên” phản ảnh một phần hoàn cảnh của tác giả vào thời Nguyễn và đề cao việc nghĩa khí. Giá trị văn học của tuồng tuy không phổ thông và biết nhiều đến so với Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu nhưng được coi là một trong các kỳ tác văn học của thế kỷ 19 ở Nam Kỳ. Tuồng được chuyển ra quốc ngữ đầu tiên do ông Bùi Quang Nhơn, thông ngôn làm việc trong Ban thư ký trung ương của chính phủ Nam Kỳ ở Dinh Thương Thơ (Interprète au Secréteriat général du Gouvernement de Cochinchine), chú giải và được nhà in Imprimerie et librarie nouvelles Claude & Cie. in năm 1895 (1). Nhà sách Claude và công ty có quảng cáo trên tờ Nông Cổ Mín Đàm năm 1903 các sách trong đó có “Kim Tuồng hát bội” được phổ biến qua sách vở và các nhà in như nhà in Nguyễn Văn Của ở Sài-Gòn, nhà in An Hà ở Cần Thơ đã in nhiều ấn bản vào đầu thế kỷ 20. Tuồng Kim Thạch Kỳ Duyên cũng đã được ông P. Midan dịch ra tiếng Pháp vào năm 1934. Năm 1966, nhà sách Khai Trí đã in “Kim Thạch Kỳ Duyên” với Trần Văn Hương chú thích và Lê Ngọc Trụ hiệu đính.

Bài này trinh bày một số nội dung tuồng “Kim Thạch kỳ duyên”, tác phẩm bằng chữ Nôm, và cung cấp thêm vài thông tin về con người Bùi Hữu Nghĩa (Thủ khoa Nghĩa).

Hình 1 – (trái) Tuồng Hát Bội “Kim Thạch Kỳ Duyên” in năm 1933 ở Nhà in An Hà, Cần Thơ (nguồn: Thư viện quốc gia Việt Nam), (phải) Tuồng hát bội “Kim Thạch kỳ duyên”, Trần Văn Hương chú thích, Lê Ngọc Trụ hiệu đính, nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 1966.

Quyển sách tuồng hát bội Kim Thạch Kỳ Duyên in lần đầu tiên năm 1895 ở Sài-Gòn do nhà in Claude et Cie. in.  (Bùi Hữu Nghĩa, Kim thạch kỳ duyên, Claude et cie., Saigon, 1895). Tác phẩm được ông Bùi Quang Nhơn chuyển âm ra quốc ngữ. Ông Bùi Quang Nhơn làm thư ký ở dinh thượng thơ cùng thời gian với ông Trương Minh Ký.

Sau này nhà in An Hà ở Cần Thơ in lại vào năm 1933. Ðây là tuồng hát bội mới với nhiều lối văn (phú, Ðường thi, lục bát, …) và hát (hát nói, hát khách, hát dặm,…) cho sân khấu. Câu truyện nói về trung nghĩa và phản ảnh một phần tình cảnh của tác giả trong cuộc sống gia đình và xã hội vào thời buổi lúc Pháp đến. Năm 1848, khi ông làm tri huyện ở Trà Vang (Trà Vinh thuộc tỉnh Vĩnh Long, ông vì giúp người Khmer ở Trà Vang chống lại quan chức địa phương ban cho địa chủ người Hoa lo lót để giành quyền khai thác cá tôm ở rạch Láng Lé, gây ra cuộc ẩu đã giữa người Khmer và Hoa nên ông bị bắt. Sau bị tha tội chết nhưng phải bị đày làm lính ở Châu Đốc.

Hai nhân vật chính trong “Kim Thạch kỳ duyên” là Kim Ngọc và Thạch Vô Hà. Thạch Vô Hà phải chịu đi ở đợ để lấy tiền chuộc giúp cha là thầy thuốc Thạch Ðạo Toàn ra khỏi giam cầm do ông bị hàm oan khi chữa trị cho vợ cả của Lợi Ðồ, tri huyện Tô Châu mà người vợ lẽ ngầm bỏ thuốc độc vào để hại vợ cả. Làm thị tỳ cho Ái Châu, con gái một nhà giàu tên là Lâm Vượng, trước đã đính hôn với Kim Ngọc. Kim Ngọc không may bị bệnh hủi và Ái Châu bội ước, nhờ mẹ đem Thạch Vô Hà thay gã cho Kim Ngọc, còn mình thì lấy Ái Lang con của Lợi Ðồ. Nhờ cha vợ Ðạo Toàn chữa hết bệnh, Kim Ngọc sau đậu Trạng Nguyên, có công với triều định đánh được giặc là Hoá Long. Trong khi đó Lợi Ðồ vì tội hà lạm nên cùng con là Ái Lang bị giam và tịch biên gia sản còn Ái châu bị đem bán lấy tiền sung công quỹ cho đủ.

Trích đoạn Thạch Vô Hà hy sinh và xin mẹ thuận cho làm thị tỳ

 

Thạch Vô Hà viết

Thưa mẹ, trẻ xin dưng một chước, già ngõ bớt ba lo,

Vã con chăng chút phận liễu bồ,

Thương cha luống mắc vòng hạ sở.

Việc ni, một là tốn của hai nữa thiệt thân;

Vậy thời, xin đem con kiếm chốn đợ đần,

Ngõ đặng của chuộc nơi ràng buộc.

Châu Thị viết

Ủa! Ai từng cắt ruột, mi biểu đành lòng;

Thời, thà với nhau một cửa chung cùng,

Nỡ khiến trẻ riêng mình lưu lạc.

Vô Hà viết

Thưa mẹ, gặp cơn tráo chát, sao đặng vuông tròn.

Như con là, tóc tơ chưa trả nợ nước non,

Son phấn quyết giày nơI gió bụi.

Nếu lắm lời riêng tỏi, thêm đau dạ bưởi bòng;

Con nóI thiệt, mẹ dầu chẳng ưng lòng,

Con nguyền không thấy mặt.

Châu Thị viết

Hà, con đã quyết chắc, mẹ phải đánh liều;

Cắt ruột rà chẳng đã phải theo, chia máu thịt nghĩ đau quá đỗi

Chừ, biết ai hầu đem mối, đặng kiếm chốn trao thân.

Trách lòng trời, khéo gây cuộc phân vân,

Nhìn mặt trẻ, luống đau lòng ly biệt.

 

 

2- Báo Tân Văn về Bùi Hữu Nghĩa

Tờ Tân Văn Tuần Báo chỉ xuất hiện trong 2 năm ở Sài-Gòn (1935-1936) và ít người biết đến. Hiện nay ở Thư Viện Quốc Gia Việt Nam chỉ còn giữ lại một vài số. Số ngày 16/5/1936 có đăng một bài với tựa đề “Một giờ phỏng-vấn người em vợ cụ thủ khoa Nghĩa”. Bài này là của ông Phan Văn Thiết, chủ bút (directeur politique) tờ Tân Văn Tuần Báo. Chủ nhiệm (Directrice fondatrice) là bà Trần Thị Hiệp (vợ ông Phan Văn Thiết). Trụ sở báo quán ở số 45 rue Aviateur Garros (nay là đường Thủ Khoa Huân).

Nhận thấy bài của ông Phan Văn Thiết có chứa nhiều thông tin về cuộc đời của Bùi Hữu Nghĩa (Thủ khoa Nghĩa), tác giả tuồng “Kim Thạch Kỳ Duyên”, nên chúng tôi đăng lại đây như một tư liệu tham khảo.

Ông Phan Văn Thiết là luật sư có văn phòng ngay tại báo quán mà trong quảng cáo trên tờ Tân Văn (16/5/1936) như sau:

“Tốn 5$ nhiều khi lợi vô bạc muôn

Mỗi lần hỏi luật chỉ tốn có 5$

Nợ Nần

Vườn đất

Tương phản

Thưa kiện v.v…

Xin do nơi: Nhà pháp-luật cố-vấn chuyên môn

Phan-Văn-Thiết

Luật-khoa cử-nhơn

45 rue A. Garros Saigon

(Làm đơn từ có giá riêng tùy trường hợp) 

Không rõ ông Phan Văn Thiết có quen biết hay là bạn của Tạ Thu Thâu và Trần Văn Thạch không? Nhưng cạnh quảng cáo của ông Phan Văn Thiết có quảng cáo 2 thầy dạy Pháp văn Tạ Thu Thâu và Trần Văn Thạch ở trường tư thục Huỳnh Khương Ninh. Tạ Thu Thâu và Trần Văn Thạch là hai nhà cách mạng thuộc đệ tứ quốc tế

“Pensionnat

Huỳnh-Khương-Ninh

61, rue d’Ariès – Saigon

Dạy đủ các lớp từ lớp Enfantin đến lớp 4e Année

Thầy dạy Pháp văn: 4e Année: M. Tạ Thu Thâu

3e Année: M. Trần-văn-Thạch

Ông Phan Văn Thiết sinh năm 1902, làng Mỹ Trà, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay thuộc thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng tháp). Ông đã từng cùng với nhà nho Đặng Thúc Liên lập ra tờ báo Việt Dân trước khi làm chủ bút tờ Tân Văn Tuần Báo. Vợ ông là bà Trần Thị Hiệp, làm quản lý cho các tờ báo Việt Dân, Thế GiớiTân Văn tuần báo. Trong phóng sự của nhà báo Văn Lang “Mấy bà quản lý nhà báo trong Nam” đăng trên tờ Trung Bắc Tân Văn ngày 30/6/1940, có nói về bà Trần Thị Hiệp như sau:

“… Tới bà Phan Văn Thiết luôn trong bốn năm kế tiếp quản lý ba tờ tuần báo có tiếng Việt Dân, Thế Giới và Tân Văn. Trong khi đức phu-quân chỉ ngồi trên gác viết bài, bà nữ quản lý ở dưới tòa báo, làm việc sổ sách, thơ từ, bôn tẩu chi thu tiền bạc, mỗi ngày hai buổi, rất nhanh nhẹn và mẫn cán. Từ nhà buôn, bạn đọc cho tới đại lý, phái viên, nhất thiết giao dịch với bà quản-lý chớ không được gặp mặt ông chủ báo bao giờ. Mỗi tờ báo bà làm quản-lý đều in từ 5.000 đến 10.000 mỗi tuần, với số xuất bản như thế đủ biết công việc của người quản lý không phải là chuyện thảnh thơi nhẹ nhàng như vậy.

..

Năm 1939 (Tràng An Báo 28/9/1939) có đăng tin cho biết ông Phan Văn Thiết và ông Nguyễn Bảo Toàn (giám đốc), Bùi Công Tri (quản lý) của tờ Dân Mới bị tòa Trừng trị tuyên án tù 4 năm vì viết bái có “tính cách làm rối cuộc trị an”. Hai ông Toàn và Trị bị 5 năm tù vì để đăng bài của ông Thiết. Khoảng thời gain này là lúc thế chiến thứ hai vừa xảy ra, chính quyền thuộc địa ở Nam Kỳ đã ban hành luật giới hạn quyền tự do báo chí và nhiều người trong phong trào Đông Dương Đại hội trước đaY vào năm 1936 đã bị Pháp bắt trong đó có các nhóm chính trị cộng sản đệ tam và đệ tứ, các nhà báo, các nhân vật chống Pháp. Như vậy ông Thiết cũng là một nhà báo tiến bộ và chắc rằng có liên hệ với nhóm Tranh Đấu (La Lutte).

Dưới đây là bài viết về cuộc phỏng vấn của ông Phan Văn Thiết với người em vợ của Bùi Hữu Nghĩa về cuộc đời của Thủ Khoa Bùi Hữu Nghĩa

“Một giờ phỏng-vấn người em vợ cụ thủ khoa Nghĩa

Năm năm nay tôi hằng tìm kiếm tài liệu mà xuất bản một bộ “Nam-Kỳ văn-uyển”, mục đích để sưu tập những thi văn của chư văn-sĩ Nam-Kỳ kẻo lâu ngày xiêu lạt mà mất lần hồi hết đi, ngày sau nếu có kẻ muốn biết Văn-ho-sử nước nhà cũNg không thể dựa vào đâu mà tra cứu được. Hiện nay, tuy tôi đã sưu tập đến ba ngàn bài nhưng vẫn còn chưa đủ. Đều [Điều] khuyết điểm lớn lao thứ nhứt là không thể truy ra gốc tích mỗi bài được.

Năm 1934, nhơn ông cử nhơn [nhân] văn-chương Pháp Paul Médan, giáo sư ở trường Chasseloup-Laubat sắp xuất bản quyển tuồng “Kim -Thạch Kỳ-Duyên” dịch ra chữ Pháp và có chú thích (1), ông có đến mượn mấy bài tôi đã viết trong báo Việt-Dân về văn chương sự nghiệp của ngài Thủ-Khoa, luôn đó ông có cậy tôi tìm kiếm giùm thêm di-tích của ngài.

Tôi có mượn người hỏi thăm con cháu của Ngài, nhưng khổ nổi, họ không biết gì cho lạ hơn sự mình đã biết. Còn thơ văn thì họ nói cũng cố để gianh [dành], nhưng lâu ngày mối mọt ăn tiêu mất đị, hoặc cho lối xóm mượn rồi làm lạc bậy hết, nay không tìm đâu cho ra. Thiệt đứng trước cái tình cảnh như thế, tôi lấy làm buồn tuổi cho Ngài Thủ Khoa hết sức! Ai đi, một bậc đại gia văn-sĩ như thế, sản-xuất nhiều tác phẩm rất có giá trị, thế mà chưa đầy nữa thế kỷ mà tên tuổi đã lu lờ, cho đến chổ chôn nhau cắt rún mà cũng ra tuồng ghẻ lạnh. Hồi tưởng lại câu: “Đồng Nai có bốn rồng vàng: Lộc-hoa, Lê-phú, Xe-đàn, Nghĩa-thi” mà tôi càng ngậm ngùi cho cái phần số của Ngài Thủ-Khoa!

Nhưng may, một bửa kia, có dịp đi chơi Bình-Thủy, tôi nhờ ông thầy thuốc Nguyễn-văn-Trân cai quản nhà thương Ô-môn trước kia, chỉ cho tôi biết rằng người em vợ Ngài Thủ-Khoa hiện nay đang còn sống và tuy đã gần bảy mươi tuổi, ông vẫn còn mạnh khỏe không có lẫn lộn chi cả. Có lẽ nào bỏ qua một dịp tốt như thế, tôi cùng ông Trân bèn tìm tới chổ ở của ông già ấy mà phỏng-vấn ông một phen.

Ông ở dưới một chiếc ghe bản lồng nhỏ nhỏ, đậu trong một cái mương, gần cầu Ngã tư, Chợ-mới, Bình-Thủy. Ghe chật hẹp, chúng tôi mới mời ông lên nhà gần bên cho dễ bề chuyện vãn. Vóc ông trung trung, mặt lớn, ngực rộng, răn [răng] còn, tóc bạc phếu, da trổ đồi mồi. Chơn [Chân] đi coi yếu, song cũng vững vàng. Ông vừa đi vừa lầm bầm: “Con mên nó không giết cho chết, để sống lâu quá lum cum không ích gì. Như người ta giàu có, sống lâu cũng phải, mình nghèo nàn, già lại thêm khổ?”

Chúng tôi mời ông ngồi, ông lễ phép tử tế, rồi ngồi xuống nói luôn câu chuyện: “Người ta bảo sống chết có số, gẫm cũng phải. Như khi tôi còn thiếu-niên, tôi ở Vĩnh-Thông (Tịnh-biên), giặc phủ kép dấy năm nầy qua năm nọ, đụng ai giết nấy, tôi không hiểu tại làm sao tôi khỏi chết. Trong lúc tôi đương thơ thẩn, may có một ông Huyện, trước kia có ở Cần-thơ, nhớ mặt tôi là người hay theo hầu ngài Thủ-Khoa, nên giao cho tôi một cây súng để canh gát [gác], và dặn tôi mỗi bữa phải kiếm nạp cho ngài một cái nía và một cái dần (2). Tôi không biết để làm chi. Nếu như tôi là người tham lam, thì trong lúc ấy tôi làm giàu lớn. Tôi không biết tại làm sao các quan ra lịnh đốt nhà cả một xóm ở chung quanh chưn [chân] núi Tương. Tôi lấy được tiền bạc và đồ đạc rất nhiều. Bọn thổ [người Khmer] xin tôi cho hết. Nhắm để đốt hết cũng uổng. Thề có trời, tôi không để lại cho tôi một món nào cả”.

Chúng tôi thừ dịp ông ngưng nói mà hỏi: “Quí danh ông là chi?”

–  Lưu-v-Tàu, 69 tuổi, Nguyên ông nội tôi trước là người Tàu, tên là Lưu-Vỏ chuyên nghề buôn bán. Ông chở một chiếc tàu buồm hàng hóa, đến cửa Hà-Tiên, vừa mới đậu bến thì bị binh của vua Cao-Tổ [tức Nguyễn Ánh lúc này] vây bắt, đem cả thủy thủ mà giết còn hàng hóa thì đốt hết. Ông tôi trốn dưới khoang ghe sau cũng bị bắt luôn. Quân muốn đem ra chém thì may có một ông quan tứ-trụ cản lại, rồi tâu với đức Vua rằng: “Muôn tâu Chúa-công, Chúa-công, Chúa-công muốn sang Xiêm, nay được chiếc tàu nầy thật là may, song phải có thủy thủ, có người biết đường coi lái mới được. Xin Chúa-công tạm th người nầy, hỏi coi người có thể giúp cho chúng ta những chuyện ấy chăng?”

–  Ông nội tôi mừng quá vang chịu theo ý Vua, cai quản chiếc ghe buồm trực chỉ qua Xiêm. Đi đến Xiêm được an ổn, Vua có phong quan chức cho ông tôi, nhưng ông tôi không nhận, Vua thường cho ông tôi 7500 quan về vụ giết 75 người thủy thủ, và giá các món hàng hóa, lại một cái bằng đề “Thôi kỳ sưu dịch, truyền tử lưu tôn, miễng [miễn] tử lưu linh, Cao-Hoàng tự ký”. Tờ ấy lớn lên tôi hởi còn thấy. Sau nầy nghèo quá, không nhà không cửa tôi không biết để đâu mà thờ, mới đem đốt đi. Ông tôi nhờ phép Vua, được đến Nam-Vang buôn bán và cờ bạc. Khi kinh Vĩnh-tế đào xong, vua cho ông tôi về đó buôn bán. Thiên hạ một ngày một đông, ông tôi xin vua đặt tên làng, vua đặt tên là làng Vĩnh-thông. Ông tôi mất để sự nghiệp lại cho cha tôi, nhưng giặc giả hoài, nhà tôi một ngày một điêu tang [tàn]. Khi Ngài Thủ-Khoa về thú ở Tịnh-Biên, thì tôi còn nhỏ lắm. Ngài là người có tài có danh, ai cũng có lòng phục. Khi Ngài cưới người chị thứ tư của tôi, chị thì mới có 16 tuổi, mà đầu Ngài đã bạc hoa râm rồi.

Như vậy theo chi tiết ở đây, Nguyễn Ánh đã bắt các thuyền người Tàu thường đến vùng Hà-Tiên và Rạch Giá buôn bán trong thời gian cuối thế kỷ 18 (và cho đến thế kỷ 19, dưới thờ Pháp thuộc vẫn còn thuyền buôn đến buôn bán lậu không chính thức). Ông nội của vợ và người em vợ của Bùi Hữu Nghĩa là một người thủy thủ trên tàu buôn bị bắt và suyết bị chém. Sau này ông ta lại là người đã lập ra làng VĩNh Thông (Tịnh Biên) sát biên giới với Cam Bốt.

Ông Phan Văn Thiết cũng cho biết ông Bùi Hữu Nghĩa cũng là bạn thân thiết như anh em với Phan Thanh Giản.

– Ngài Thủ-Khoa khi ấy làm chức chi? Chúng tôi hỏi.

– Tôi chỉ nghe gọi Ngài Thủ-Khoa, chớ không nghe kêu chức gì, thấy các quan ai cũng phục Ngài. Giặc thì không thấy Ngài đánh, nhưng hể có giấy tờ chi chạy về cho Vua, thì ai cũng nhường cho Ngài viết cả. Đi đám nào phải có làm đối, liễng hay bài chi dầu có ông Bố, ông Án, mấy ổng cũng nhường cho Ngài làm. Đến khi đã hưu trí cũng vậy, tới đâu Ngài cũng được ngồi đàng trước ngựa giữa với các quan lớn, còn mấy ông phủ huyện phải ngồi ngựa riêng ngoài hàng ba. Quan lớn Phan [Phan Thanh Giản] cũng thương Ngài như là anh em bạn.

Bài phỏng vấn cũng cho biết nguyên nhân vì sao mà Bùi Hữu Nghĩa bị bắt và bị giáng chức, phải đi xuống Tịnh Biên, nơi biên giới với nước Cam Bốt.

– Thưa ông, ngài Thủ-khoa gốc gát cội rễ ở đâu?

– Cha! cái đó tôi không biết. Tôi khi ấy còn nhỏ quá và cũng khổ nên không hỏi làm chi. Mà chắc là gốc gát ở đây, mới xin với vua hồi hưu về đây. Ngài cũng hay nói việc trước cho tôi nghe. Như hồi thi rồi, người ta xướng danh ngài đầu hết, ngài nói ngài nghe, mà ngài không them lên tiếng, cố ý để cho người ta kêu nhiều lần cho thiên hạ biết tên. Ngài nói với tôi rằng người ta kêu “Long-Tuyền Bùi-hữu-Nghĩa” thì chắc ngài là người Long-tuyền.

Ngài hay nói hồi ngài thi đậu thì còn nhỏ hơn người khác hết, nên còn dại hay quá tự đắc, các quan tỉnh đều ghét mà ngài cũng chẳng tùng phục ai cả. Vã lại các quan lớn bấy giờ tài học cũng thua ngài, cho nên họ cũng kiêng ngài. Song vì ngài kiêu hảnh quá, mà có ngày kia thiếu chút nữa ngài bị tội tử hình. Câu chuyện ấy như vầy: Khi ấy ngài làm Huyện ở Trà-vinh là xứ người thổ. Vua có chiếu chỉ cho những người thổ ở theo sông Trà-vinh được phép bắt cá dưới sông ăn khỏi nạp thuế cho nhà nước. Có một bọn người Khách [người Tàu], lo với quan tỉnh, xin mua thuế thủy lợi cả vùng ấy. Quan tỉnh cho phép. Khi về đòi thuế sông Trà Vinh nơi Lang-thé, người Thổ không chịu đóng, đến thưa với ngài. Ngài khi ấy cũng có chén, bảo: “Vua đã cho bây ăn thủy lợi, ai dám ngăn cản bây chém đầu chúng nó đi.”. Bọn Thổ được lịnh về cứ việc thi hành. Kết cuộc chết hết bảy người khách trú. Phe khách trú lên kêu với quan tỉnh và nói rằng giấy phép của quan tỉnh cho quan huyện lấy cất rồi. Quan tỉnh sẵn ghét ngài Thủ-Khoa, lại phải chữa mình, nên xuống tại Tràvinh, bắt ngài và xét nhà lấy giấy phép cho bọn khách-trú lại. Quan tỉnh dâng sớ về vua, cáo ngài Thủ-khoa tự tiện giết người, còn ngài thì bị giải về Gia-định.

Em bạn dì của ngài là ông quản Kiêm, thức đêm trèo thành vô ngục, ngài làm một cái trang biểu đem về đưa cho Bà cầm ra kinh, minh oan cho ngài. Vua tha lỗi nhưng dạy ngài phải đái [đoái] công thục [chuộc] tội, sai ngài đi dẹp giặc Cao-miên. Giặc yên được một ít lâu, thì nó lại làm phản nữa, chuyến nầy quan quân ta bị bắt và bị hại rất nhiều. Ngài cũng bị bắt, may nhờ tướng ngài tốt, người đẫy đà mặt rộng tráng [trán] cao, râu dài chí lưng quần, nên quan Cao-miên có lòng kính nể tâu làm sao với vua là Ong-Đuôn, nên ngài được thả. Vua cho ghe ngô đưa ngài về Bắc-nam (là Ba-nam bây giờ. Ở đó có người Annam ở nhiều) rồi mới đưa ngài về Tịnh-Biên.

– Ông có biết khi ở Tịnh-Biên, ngài Thủ-Khoa có lập được công nghiệp chi không?

– Lúc ngài ở Tịnh-biên tôi còn nhỏ lắm, không biết chi, còn về công nghiệp ngài thì tôi cũng không nghe ai nói. Sau khi ngài về Bình-thủy [Cần Thơ ngày nay] ít lâu, lúc ấy tôi được 14-15 tuổi, khi tôi theo ngài mà học. Ngài đi đâu có tôi theo hầu hạ. Lúc mới về Long-Tuyền, ngài mua chợ Bình-Thủy lại của ông quản Sang, và vài sở đất. Chợ khi ấy còn nghèo lắm, đất cũng không có huê lợi bao nhiêu, ngài nhờ có lương hưu trí lâu lâu đi lảnh một lần trên Châu-đốc, lúc ấy còn sáu tỉnh nên làng Long-Tuyền thuộc về tỉnh An-Giang, tức là Châu-đốc. Ngài là người phong lưu, ngoài ra dạy học-trò, thì hoặc đi câu, hoặc đánh cờ, uống rượu, ngâm thơ. Người ta nói Tào-tử-Kiên khi xưa, đi bảy bước mới làm được một bài thơ, tôi thấy ngài Thủ-khoa, hễ có dịp gì, thì mở miệng là ra thơ, làm hay và lẹ lắm, không biết văn chương sắp sẵn đâu trong trí, mà hể chừng cần dùng nó tuôn ra như nước.

– Ông có nhớ những dịp nào ngài làm thi, đối như vậy không?

– Nếu mà nhớ, nhớ sao cho hết. Những bài nào làm ở nhà, anh em tôi còn biên chép để dành, còn đi chơi xuất kỳ bất ý mà làm thì biết bao nhiêu. Từ ấy đến bây giờ lâu quá, tôi quên hết. Tôi còn nhớ một khi kia, có một thầy đề (đề 36 con) người Tàu, mới đến Long-Tuyền, nghe danh ngài, đem lễ vật ra mắt, xin ngài một đôi liễng để thờ ông Quan-Đế. Ngài trả lời khiêm nhượng rằng thầy ở bên Tàu đến, làm nghề đề thì phải thông thái lắm, sức thầy làm dư… thầy khiêm nhượng đó thôi. Thầy đề năn nỉ, ngài bèn đọc liền hai câu:

Anh hùng kỷ kiến xưng phu-tử

Hào kiệt ư tư nãi thánh nhân

Thầy đề nức nở khen dồi. “Từ thuở xưa không biết bao nhiêu câu đối thờ ông Quan-Đế, mà câu của ông nghĩa lý thiệt là mới mẻ, hay vô cùng.”

Một đề tôi lấy làm lạ là sau nầy tôi thấy trong sách câu đối của Tàu, có hai câu đối ấy. Chuyện tôi biết rõ ràng như vậy.

–  Bình sanh ngài thủ-khoa lúc trở về già có được mạnh khỏe không?

– Ngài người bao giờ cũng mập tốt, râu dài, đầu bạc coi lịch sự lắm mà. Vậy mà ngài đau có bốn hôm thì chết. Mà cũng kỳ, ngài biết trước giờ chết của ngài.

– Thưa ông nói chuyện ấy cho chúng tôi nghe.

(Còn nữa)

Phan-văn-Thiết

–          

(Tác giả, Phan Văn Thiết, chú thích:

(1) Ai muốn mua quyển sách nầy thì hỏi nơi nhà in Ng-v-Của.

(2) Chúng tôi cũng không hiểu chi vậy?

)

Tiếc rằng bài báo trong số kế tiếp của Tân Văn tuàn báo không còn lưu trữ nên không biết thêm về câu truyện về Bùi Hữu Nghĩa.

3- Tuồng hát bội “Kim Thạch Kỳ Duyên”

Nội dung tuồng “Kim Thạch Kỳ Duyên” là về mối duyên kỳ lạ giữa họ Kim và họ Thạch. Cuộc đời của Bùi Hữu Nghĩa có dính líu nhiều đến người Cam Bốt từ Trà Vinh đến Tịnh Biên và vùng biên giới, ta cũng không quên họ Thạch là họ mà nhiều người Việt gốc Miên có.

Tuồng được các gánh hát bội trình diễn ở Nam Kỳ và ngày cả ở Bắc Kỳ tuồng cũng thường được trình diễn. Tờ Hà Thành ngọ báo (29/11/1931) có đăng trên mục sân khấu các chương trình hát bội, cải lượng kịch ở các rạp Quảng Lạc, Sán Nhiên Đài, Cải Lương hý viện, Phúc Thắng trong đó có tuồng “Kim Thạch Kỳ Duyên”

“Sán Nhiên Đài

Hát tuồng !! Hát tuồng !!

Trong khi ban hát cải-lương Nam Kỳ nghỉ hátcó ban hát tuồng ở các tỉnh về diễn tại bản rạp:

Toàn đào kép mới   Tích hát rất mới rất lạ ! rất hay ! mũ màng tuyệt đẹp !

Mà giá thu rất hạ: Loge 0p50. Hạng nhất 0p30. Hạng nhì 0p20. Hạng ba 0p.10. Hạng tư 0p05

Tối thứ bẩy 28 Novembre 1931

Diễn 2 tấn

  • Kim Thạch Kỳ Duyên
  • Đại Hài kịch

Hình – Nghệ sĩ hát bội, trang phục và diễn tuồng (nguồn: Monographie dessinée de l’Indochine: Cochinchine, Imprimerie Paul Geuthner, Paris, 1935)

4- Ảnh hưởng tuồng Kim Thạch Kỳ Duyên trong xã hội

Tuy không ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội như tác phẩm Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, nhưng về ý nghĩa triết lý và luân lý của tuồng Kim Thạch Kỳ Duyên và tác phẩm văn học Lục Vân Tiên ra đời trong cùng khoảng thời gian khi Nam Kỳ biến động khi người Pháp đánh chiếm đều có cùng chung ý tưởng là tiết tháo, thủy chung, nghĩa khí sẽ vượt qua khó khăn thử thách và thiện sẽ át thắng gian ác. Chính vì thế câu truyện Kim Thạch đã đi vào lòng người và được nhiều tầng lớp người dân đón nhân. Từ Kim Thạch đã trở thành từ ngữ được lưu truyền có nghĩa là tình nghĩa vợ chồng, chung thủy hay duyên Kim Thạch (duyên số vợ chồng)

Một lòng Kim Thạch giữ tri tri

(thơ Tạ Vĩnh Hy, Saigon 13/1/1941)

Dưới chin suối cũng bền như kim thạch

(bài văn truy điệu như Tây trận vong chiến sĩ Việt Nam trong lễ kỷ niệm đình chiến 11 Novembre, Tràng An báo, 18/11/1938)

Ngày này ở quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ, quê hương của Thủ khoa Nghĩa, có khu đền thờ Bùi Hữu Nghĩa, lập quanh mộ của ông, và là nơi đông đảo du khách tham quan. Người dân thành phố Cần Thơ mỗi năm, vào ngày giổ Bùi Hữu Nghĩa, đã đến thăn cúng, tổ chức lễ rất đông. Tác giả tuồng “Kim Thạch Kỳ Duyên” đã trở thành biểu tượng khí tiết trong tâm khảm của người dân Nam bộ.

Tham khảo

  • Henri Cordier, Bibliotheca indosinica. Dictionnaire bibliographique des ouvrages relatifs à la péninsule indochinoise, Vol. IV. – 1915, 2281-3030 , Paris, 1912
  • Tân Văn tuần báo, 16/5/1936
  • Tràng An báo, 18/1/1938, 28/9/1939
  • Trung Bắc tân văn, 30/6/1940
  • Bùi Hữu Nghĩa, Kim Thạch Kỳ Duyên, Nhà in An Hà, Cần Thơ, 1933.
  • Saigon 13/1/1941

About hiepblog

Nhà nghiên cứu khoa học

Thảo luận

Không có bình luận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s